Thành phố Đà Nẵng vừa thông tin về việc xác định lại diện tích đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước ngày 1/7/2004, nhưng chưa xác định cụ thể diện tích đất ở và được thể hiện chung đất ở với các loại đất khác trên địa bàn Thành phố…
Theo đó, hộ gia đình, cá nhân
đang sử dụng đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước ngày 1/7/2004
chưa xác định cụ thể diện tích đất ở mà được thể hiện chung đất ở với đất khác
như: “thổ cư”, “thổ tập trung”, “làm nhà ở”, “đất ở + vườn”, “T”, “TV”, “TQ”,
“TTT”, và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 141 của Luật Đất đai,
thì được xác định lại diện tích đất ở.
Cụ thể, đối với trường hợp sử dụng
đất ổn định trước ngày 18/12/1980: Nếu diện tích ghi trên Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đã cấp bằng, hoặc lớn hơn hạn mức công nhận đất ở do UBND Thành phố
quy định đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất, mà thửa đất được hình
thành trước ngày 18/12/1980, thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức
công nhận đất ở theo quy định của Luật Đất đai. Trường hợp nhỏ hơn hạn mức thì
toàn bộ diện tích được xác định là đất ở.
Đối với trường hợp sử dụng đất ổn
định từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 15/10/1993, nguyên tắc xác định cũng được
thực hiện tương tự theo hạn mức công nhận đất ở tương ứng.
Trong đó, trường hợp sử dụng đất ổn
định từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 15/10/1993: Diện tích ghi trên Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đã cấp bằng, hoặc lớn hơn hạn mức công nhận đất ở do
UBND Thành phố quy định đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất, mà thửa
đất được hình thành từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 15/10/1993, thì diện tích
đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận đất ở theo Luật Đất đai;
Diện tích ghi trên Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đã cấp nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở do UBND Thành phố quy
định, thì toàn bộ diện tích đó được xác định là đất ở.
Trường hợp sử dụng đất ổn định từ
ngày 15/10/1993 đến trước ngày 1/7/2004: Diện tích ghi trên Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đã cấp bằng, hoặc lớn hơn hạn mức giao đất ở do UBND Thành phố quy
định, thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức giao đất ở;
Diện tích ghi trên Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất nhỏ hơn hạn mức giao đất ở do UBND Thành phố quy định, thì
toàn bộ diện tích đó được xác định là đất ở.
Hạn mức công nhận đất ở, hạn mức
giao đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân được thực hiện theo quy định về hạn mức
công nhận đất ở, hạn mức giao đất ở tại văn bản quy phạm pháp luật do UBND Thành
phố ban hành theo quy định của Luật Đất đai đang có hiệu lực pháp luật tại thời
điểm xác định lại diện tích đất ở đối với các trường hợp trên.
Đối với phần diện tích đất còn lại
của thửa đất sau khi đã được xác định lại diện tích đất ở theo quy định trên,
thì được xác định theo quy định tại khoản 4 Điều 141 Luật Đất đai.
Trường hợp người sử dụng đất đã
thực hiện chuyển quyền sử dụng đất một phần diện tích đất ở của thửa đất, hoặc
Nhà nước đã thu hồi một phần diện tích đất ở của thửa đất, thì khi xác định lại
diện tích đất ở phải trừ đi phần diện tích đất ở đã chuyển quyền sử dụng đất hoặc
thu hồi.
Phần diện tích đất của người nhận
chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, hoặc phần diện tích đất
Nhà nước đã thu hồi, thì không được xác định lại, trừ trường hợp thuộc quy định
tại Nghị định số 49/2026/NĐ-CP của Chính phủ.
-Hoàng Bách
Nguồn tin: https://vneconomy.vn/da-nang-quy-dinh-cach-xac-dinh-lai-dien-tich-dat-o-cua-ho-gia-dinh-ca-nhan.htm
