Nghị quyết số 79-NQ/TW đặt ra yêu cầu mới đối với các định chế tài chính có vốn Nhà nước trong ngành ngân hàng, đó là giữ vai trò trụ cột ổn định hệ thống, cung ứng vốn cho nền kinh tế, dẫn dắt thị trường và nâng tầm cạnh tranh khu vực. Bàn tròn kỳ này, các chuyên gia và lãnh đạo ngân hàng cùng phân tích những nút thắt then chốt cần tháo gỡ để các ngân hàng thương mại nhà nước trở thành những nhà tạo lập thị trường, hoàn thành các mục tiêu nêu trên.



“Nghị quyết 79 đã xác định rõ vai trò then chốt của các ngân
hàng thương mại nhà nước trong việc ổn định hệ thống tài chính, điều tiết thị
trường tiền tệ, cung ứng nguồn vốn chủ lực cho nền kinh tế, đồng thời đi đầu về
quy mô, năng lực quản trị, trình độ công nghệ và chuẩn mực hoạt động. Việc đặt
mục tiêu có ít nhất ba ngân hàng thương mại nhà nước nằm trong nhóm 100 ngân hàng
lớn nhất châu Á về tổng tài sản vừa là cơ hội, vừa là trách nhiệm lớn đối với
Vietcombank – một ngân hàng giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống.
Có thể khẳng định, Nghị quyết 79 đã tạo ra một nền tảng thể
chế mạnh mẽ cho con đường mà Vietcombank đang kiên định theo đuổi: phát triển
trở thành một ngân hàng thương mại nhà nước hiện đại, hoạt động hiệu quả, có
năng lực cạnh tranh trong khu vực; đồng thời vừa thực hiện tốt vai trò chủ lực
trong nền kinh tế, vừa vận hành theo các chuẩn mực quản trị tiên tiến, minh bạch
và bền vững.
Đối với Vietcombank, mục tiêu này không chỉ được hiểu là mở
rộng quy mô tài sản, mà còn là quá trình nâng tầm toàn diện về năng lực tài
chính, chất lượng tăng trưởng, chuẩn mực quản trị và vị thế khu vực. Chiến lược
phát triển mà Vietcombank đang theo đuổi trong giai đoạn tới có mức độ tương đồng
cao với định hướng của Nghị quyết 79. Trên cơ sở đó, Vietcombank xác định bốn định
hướng trọng tâm.
Thứ nhất, tiếp tục phát huy vai trò điều tiết và dẫn dắt thị
trường, điều hành tín dụng phù hợp với chu kỳ kinh tế. Ngân hàng ưu tiên nguồn
vốn cho các lĩnh vực then chốt và các dự án trọng điểm quốc gia, đồng thời hỗ
trợ những động lực tăng trưởng mới như hạ tầng chiến lược, chuyển đổi năng lượng
và kinh tế số. Bên cạnh đó, Vietcombank cũng chủ động xây dựng dư địa tăng trưởng
phù hợp để có thể đóng vai trò bộ đệm cho nền kinh tế trong những giai đoạn biến
động.
Thứ hai, tăng cường năng lực tài chính, coi vốn là nền tảng
cho sự phát triển bền vững. Vietcombank đang triển khai các giải pháp tăng vốn
chủ sở hữu từ cả nguồn lực nội sinh và nguồn vốn bên ngoài, qua đó nâng cao
năng lực đáp ứng các chuẩn mực an toàn ngày càng cao, đồng thời tạo điều kiện để
ngân hàng thực hiện vai trò điều tiết thị trường một cách chủ động và hiệu quả.
Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số và quản trị dữ liệu. Ngân
hàng tập trung đầu tư mạnh vào hạ tầng dữ liệu và năng lực phân tích, ứng dụng
công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong quản trị rủi ro và điều hành hoạt động
theo thời gian thực. Mục tiêu là từng bước hình thành năng lực quản trị dựa
trên dữ liệu và công nghệ như một lợi thế cạnh tranh cốt lõi.
Thứ tư, đổi mới cơ chế nhân sự và tạo động lực phát triển mới.
Vietcombank chú trọng nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công
việc, đồng thời xây dựng cơ chế khuyến khích hài hòa giữa lợi ích cá nhân và hiệu
quả dài hạn của tổ chức. Qua đó hình thành đội ngũ nhân sự có đủ năng lực, động
lực và trách nhiệm để thực hiện các mục tiêu chiến lược trong giai đoạn phát
triển mới”.


“Là ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ,
Agribank luôn khẳng định vị thế định chế tài chính hàng đầu – điểm tựa quốc gia
về tài chính tiền tệ, triển khai nghiêm túc, có hiệu quả các chủ trương, chính
sách của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, giữ vai trò chủ lực
trong cung ứng vốn tín dụng và dịch vụ tài chính cho nền kinh tế, đặc biệt là
khu vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm
phát, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội đất nước
trong quá trình 40 năm Đổi mới.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với
yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng và năng lực tự chủ của nền kinh tế,
việc phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế Nhà
nước đã đưa ra những quyết sách lớn, mang tầm chiến lược, định hướng phát triển
hết sức cụ thể, dài hạn với yêu cầu rất cao đối với các doanh nghiệp nhà nước.
Đối với các ngân hàng thương mại nhà nước, mục tiêu đề ra đến
năm 2030 phấn đấu có ít nhất ba ngân hàng thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu
vực châu Á về tổng tài sản; phát triển bốn ngân hàng thương mại nhà nước đi đầu,
tiên phong về công nghệ, năng lực quản trị, chủ lực, chủ đạo về quy mô, thị phần,
khả năng điều tiết thị trường trong toàn hệ thống ngân hàng.
Nghị quyết 79 xác định kinh tế nhà nước là thành phần đặc biệt
quan trọng, phải giữ vai trò chủ đạo, tiên phong dẫn dắt nền kinh tế, không chỉ
về quy mô mà phải thực sự hiệu quả, minh bạch và có năng lực cạnh tranh quốc tế.
Đây vừa là định hướng chiến lược, vừa là áp lực đổi mới toàn diện đối với các
doanh nghiệp nhà nước, trong đó có Agribank.
Quán triệt sâu sắc vai trò, sứ mệnh của mình, Agribank quyết
tâm vượt qua mọi khó khăn, thách thức và cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ theo
Nghị quyết 79 trong Chiến lược phát triển của ngân hàng đến năm 2030, tầm nhìn
đến năm 2035 với ba trụ cột cốt lõi: quản trị hiện đại và minh bạch; tiên phong
phát triển xanh, hiệu quả, bền vững; và chuyển đổi số toàn diện.
Theo đó, Agribank sẽ áp dụng các mô hình và phương thức quản
trị hiện đại, nâng cao năng lực quản lý rủi ro, tăng cường kỷ cương, kỷ luật,
minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Ngân hàng đồng thời xây dựng chiến lược chuyển đổi số toàn
diện, hướng tới số hóa dịch vụ và dữ liệu, chuẩn hóa theo các chuẩn mực quốc tế,
coi dữ liệu là nguồn lực chiến lược, đồng thời bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống
thông tin.
Cùng với đó, Agribank sẽ phát triển mạnh các dịch vụ ngân
hàng số, tài chính xanh, mở rộng cung cấp sản phẩm tài chính trực tuyến tới
doanh nghiệp và người dân trên mọi vùng miền.
Agribank tiếp tục sắp xếp lại mạng lưới nhằm nâng cao năng
suất, chất lượng và hiệu quả hoạt động, đồng thời phát huy vai trò chủ lực
trong triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, đặc biệt
trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân.
Để hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao, năng lực tài
chính là điều kiện tiên quyết. Nghị quyết 79 đã mở ra cơ chế bổ sung vốn điều lệ
từ lợi nhuận cho doanh nghiệp nhà nước – một bước đột phá thể chế quan trọng.
Agribank kiến nghị cấp có thẩm quyền sớm bổ sung 30.000 tỷ đồng vốn điều lệ
giai đoạn 2025–2027 và thể chế hóa cơ chế bổ sung vốn từ lợi nhuận hằng năm
theo đúng tinh thần này. Chỉ khi có nền tảng vốn đủ mạnh, Agribank mới có thể
thực sự đóng vai trò trụ cột của kinh tế nhà nước – không phải theo nghĩa hành
chính, mà theo đúng nghĩa dẫn dắt, kiến tạo và lan tỏa giá trị cho toàn nền
kinh tế”.


“Nghị quyết 79-NQ/TW
của Bộ Chính trị khẳng định và nâng tầm vai trò của VAMC là công cụ nòng
cốt của Nhà nước trong xử lý nợ xấu và hỗ trợ tái cơ cấu tài chính của hệ thống
ngân hàng theo cơ chế thị trường.
Việc đặt xử lý nợ xấu ở vị trí trung tâm trong chiến lược
phát triển kinh tế nhà nước cho thấy cách tiếp cận đã chuyển từ xử lý tình huống
sang tư duy chủ động, dài hạn và mang tính cấu trúc. Qua đó, đặt ra yêu cầu
VAMC phải đảm nhận vai trò trung tâm hơn trong điều phối, dẫn dắt và phát triển
thị trường mua bán nợ.
Cùng với đó, Nghị quyết 79 tạo nền tảng quan trọng để đổi mới
cơ chế hoạt động của VAMC theo hướng thị trường, minh bạch và hiệu quả hơn, từng
bước mở rộng phạm vi hoạt động từ mua và quản lý nợ sang tham gia sâu hơn vào
toàn bộ chuỗi xử lý nợ xấu, gắn xử lý nợ với tái cấu trúc doanh nghiệp và bảo
toàn giá trị tài sản. Đây là tiền đề để nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu một cách
thực chất, hạn chế tổn thất cho hệ thống tài chính – ngân hàng và nền kinh tế.
Về dài hạn, Nghị quyết 79 cũng đặt ra yêu cầu phải nâng cao
mạnh mẽ năng lực, quy mô và hiệu quả hoạt động của VAMC, bảo đảm tương xứng với
vai trò được giao trong bối cảnh rủi ro tín dụng có xu hướng gia tăng và nhu cầu
mở rộng tín dụng phục vụ tăng trưởng kinh tế ngày càng lớn.
Để hiện thực hóa các mục tiêu và tinh thần của Nghị quyết
79, trong thời gian tới, VAMC sẽ tập trung triển khai một số nhóm giải pháp,
nhiệm vụ trọng tâm, như:
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế và cơ chế chính sách, chủ
động đề xuất với Ngân hàng Nhà nước và các bộ, ngành liên quan trong việc rà
soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về xử lý nợ xấu và thị
trường mua bán nợ, tạo hành lang pháp lý đồng bộ, ổn định và phù hợp với thông
lệ thị trường.
Hai là, đẩy mạnh hoạt động mua nợ theo giá trị thị trường,
đa dạng hóa phương thức mua, bán và xử lý nợ; tăng cường huy động và hợp tác
nguồn lực với các tổ chức tài chính, nhà đầu tư trong và ngoài nước theo cơ chế
chia sẻ lợi ích và rủi ro, qua đó nâng cao năng lực tài chính và khả năng xử lý
nợ xấu quy mô lớn.
Ba là, mở rộng và chuyên nghiệp hóa các hoạt động xử lý nợ,
bao gồm cung cấp dịch vụ thu hồi nợ, xử lý tài sản bảo đảm và tham gia tái cấu
trúc doanh nghiệp gắn với xử lý nợ xấu, nhằm bảo toàn giá trị tài sản, nâng cao
khả năng phục hồi của khách hàng vay và hiệu quả thu hồi nợ.
Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao năng lực quản trị,
ứng dụng công nghệ, dữ liệu lớn và phân tích chuyên sâu trong toàn bộ chuỗi hoạt
động; đồng thời phát huy vai trò của Sàn Giao dịch nợ VAMC và Câu lạc bộ xử lý
nợ AMC như những thiết chế trung tâm của thị trường mua bán nợ.
Thông qua các giải pháp trên, VAMC hướng tới thực hiện đầy đủ
vai trò, trách nhiệm được giao theo tinh thần Nghị quyết 79, góp phần xử lý nợ
xấu một cách chủ động, hiệu quả và bền vững; qua đó củng cố an toàn hệ thống
các tổ chức tín dụng và hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô trong giai đoạn tới”.


“Để giữ ổn định vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng, Việt Nam phải
có những ngân hàng thương mại lớn, dẫn dắt và trọng trách đó đặt lên các ngân
hàng thương mại Nhà nước (big 4) như Nghị quyết 79-NQ/TW đã đề ra.
Mục tiêu đến năm 2030 có ba ngân hàng thương mại Nhà nước lọt
vào top 100 ngân hàng lớn nhất châu Á về tổng tài sản là rất đúng đắn nhưng
cũng đầy thách thức.
Theo số liệu hiện nay, các ngân hàng nằm trong top 100 châu
Á thường có tổng tài sản khoảng 250 – 300 tỷ USD và vốn chủ sở hữu từ 20- 25 tỷ
USD.
Trong khi đó, ngay cả bốn ngân hàng thương mại Nhà nước là lớn
nhất ở Việt Nam hiện nay, thì tổng tài sản cũng mới đạt khoảng 90 – 100 tỷ USD,
tức là chưa bằng một nửa so với quy mô của các ngân hàng trong top 100 châu Á.
Vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thương mại Nhà nước hiện cũng chỉ khoảng 4-5 tỷ
USD, tức là bằng khoảng một phần tư, thậm chí một phần năm so với các ngân hàng
lớn trong khu vực.
Muốn đạt mục tiêu lọt vào top 100 châu Á thì vốn tự có của
các ngân hàng Việt Nam phải tăng khoảng 4 – 5 lần, còn tổng tài sản phải tăng
khoảng 3 lần so với hiện nay. Nếu chỉ trông vào việc giữ lại lợi nhuận để tăng
vốn cho các ngân hàng thương mại Nhà nước, gần như không thể đạt được mục tiêu.
Nếu chỉ xét đơn thuần tiêu chí định lượng, chưa tính đến những
yếu tố khác như năng lực quản trị, khả năng cạnh tranh hay mức độ quốc tế hóa
thì khoảng cách giữa các ngân hàng lớn ở Việt Nam và ngân hàng top châu Á đã rất
xa. Vì vậy, nếu chỉ trông vào việc giữ lại lợi nhuận để tăng vốn cho các ngân
hàng thương mại Nhà nước, gần như không thể đạt được mục tiêu.
Thực tế, đây là một vòng luẩn quẩn: khi vốn tự có thấp thì
ngân hàng cũng khó mở rộng tổng tài sản và quy mô cho vay; mà khi quy mô hoạt động
bị hạn chế thì lợi nhuận tạo ra cũng không đủ lớn để tăng vốn nhanh.
Vì vậy, để đạt được mục tiêu có ngân hàng Việt Nam lọt vào
top 100 ngân hàng lớn nhất châu Á trong vòng 10 năm tới, chắc chắn cần những giải
pháp mạnh mẽ và mang tính đột phá.
Nếu Nhà nước xác định chọn ra khoảng 2-3 ngân hàng làm “hạt
nhân” thì cần bổ sung cho họ khoảng 5 –
7 tỷ USD để nâng quy mô vốn chủ sở hữu lên khoảng 15 tỷ USD trong giai đoạn đầu.
Đây sẽ là nền tảng ban đầu để các ngân hàng thương mại Nhà nước tiến gần hơn tới
quy mô của các ngân hàng lớn trong khu vực.
Bên cạnh đó, cần tính đến việc nới room sở hữu nước ngoài đối
với các ngân hàng thương mại cổ phần có vốn Nhà nước, chẳng hạn từ 30% lên 49%.
Khi đó, các ngân hàng mới có khả năng thu hút được những tập đoàn tài chính lớn
trên thế giới tham gia với tư cách cổ đông chiến lược. Không chỉ mang lại nguồn
vốn, các nhà đầu tư này còn mang theo công nghệ, kinh nghiệm quản trị và các
chuẩn mực quốc tế.
Khi vốn tự có được tăng lên, hệ số an toàn vốn sẽ được cải
thiện, từ đó mới tạo điều kiện để mở rộng tổng tài sản và quy mô tín dụng.
Song song với đó, hệ thống ngân hàng cũng cần đẩy mạnh chuẩn
mực minh bạch và quản trị theo tiêu chuẩn quốc tế, áp dụng đầy đủ các chuẩn mực
báo cáo tài chính quốc tế như IFRS. Chỉ khi mức độ minh bạch và quản trị được
nâng lên thì mới có thể thu hút được dòng vốn quốc tế một cách bền vững.
Ngoài ra, Nhà nước cũng cần cân nhắc những bước đi mang tính
đột phá hơn, như tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thông qua sáp nhập các ngân
hàng để tăng quy mô. Thậm chí, các ngân hàng Việt Nam có thể tính đến việc mua
lại các ngân hàng nhỏ ở nước ngoài, chẳng hạn trong khu vực ASEAN, để mở rộng
phạm vi hoạt động và nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế.
Để thực hiện được những bước đi như vậy, Chính phủ cũng cần
có cơ chế đặc thù hoặc các mô hình sandbox chính sách, trao thêm quyền chủ động
cho các ngân hàng thương mại nhà nước trong các hoạt động như MA, đổi mới
công nghệ và mở rộng hoạt động quốc tế.
Trong quá trình thảo luận về các cơ chế đặc thù dành cho các
ngân hàng lớn, một số ý kiến lo ngại rằng những chính sách này có thể tạo ra sự
bất bình đẳng giữa các khu vực kinh tế, đặc biệt là khu vực tư nhân.
Tuy nhiên, cách tiếp cận vấn đề “bình đẳng” trong chính sách
kinh tế cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn.
Trong một nền kinh tế hiện đại, mỗi thành phần kinh tế đóng
một vai trò khác nhau. Các doanh nghiệp lớn, các ngân hàng trụ cột hay các tập
đoàn chiến lược thường có vai trò dẫn dắt và lan tỏa đối với toàn bộ hệ sinh
thái kinh tế. Việc áp dụng những cơ chế chính sách đặc thù cho các tổ chức này
không phải tạo đặc quyền, mà nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền
kinh tế.
Nếu một số ngân hàng lớn có thể phát triển đủ mạnh để dẫn dắt
thị trường, mở rộng khả năng cung ứng vốn, thúc đẩy đổi mới công nghệ và nâng
cao tiêu chuẩn quản trị, lợi ích cuối cùng sẽ lan tỏa tới toàn bộ doanh nghiệp
và người dân. Khi đó, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn phụ thuộc nhiều vào tín
dụng ngân hàng, cũng được hưởng lợi thông qua khả năng tiếp cận vốn tốt hơn và
chi phí vốn hợp lý hơn.
Do đó, bình đẳng trong chính sách không phải là chia đều nguồn
lực, mà là tạo ra một cấu trúc kinh tế trong đó mỗi thành phần có thể phát huy
tối đa vai trò của mình trong lợi ích chung của quốc gia”.


“Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống
ngân hàng, và xu hướng này nhiều khả năng còn tiếp diễn trong 5–10 năm tới. Sự
phát triển mạnh mẽ của công nghệ số đang tạo ra lợi thế đáng kể cho hệ thống
ngân hàng trong xử lý thông tin, quản trị rủi ro và quản lý khách hàng.
Khác với thị trường vốn, nơi rủi ro được phân tán và nhà đầu
tư phải tự quản lý rủi ro, thị trường tiền tệ vận hành dựa trên năng lực quản
trị rủi ro chuyên nghiệp của các tổ chức tín dụng. Khả năng thu thập và xử lý dữ
liệu nhanh chóng giúp nâng cao hiệu quả phân tích và kiểm soát rủi ro, qua đó củng
cố vai trò trung tâm của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế.
Khi thực hiện vai trò dẫn dắt thị trường, các ngân hàng
thương mại nhà nước là một trong những nhân tố quan trọng tác động tới mặt bằng
lãi suất, tỷ giá, triển khai các khoản đầu tư quy mô lớn và tiên phong thực hiện
các mục tiêu phát triển trọng yếu của Nhà nước. Tuy nhiên, để đảm đương vai trò
đó, hệ thống ngân hàng cần hội đủ một số điều kiện tiên quyết.
Trước hết, các ngân hàng phải thực sự vững mạnh. Sự vững mạnh
không chỉ thể hiện ở quy mô vốn mà còn ở năng lực quản trị và điều hành. Một
ngân hàng dẫn dắt thị trường cần có hệ thống quản trị rủi ro hiệu quả, tỷ lệ nợ
xấu được kiểm soát ở mức thấp và tệp khách hàng có chất lượng tín dụng tốt. Đồng
thời, ngân hàng cần đi đầu trong ứng dụng công nghệ số, qua đó thúc đẩy quá
trình chuyển đổi số trong hoạt động tài chính – ngân hàng.
Thứ hai, năng lực định hướng và kiểm soát kỳ vọng của thị
trường. Muốn làm được điều này, trước hết hệ thống ngân hàng phải củng cố niềm
tin thị trường, chứng minh năng lực và nguồn lực đủ mạnh để ứng phó với các cú
sốc kinh tế.
Trong bối cảnh thông tin lan truyền nhanh và đa chiều như hiện
nay, việc kiểm soát kỳ vọng đòi hỏi một chiến lược truyền thông chủ động và
minh bạch. Cách điều hành mang tính “kín cửa” dễ khiến thị trường rơi vào trạng
thái nhiễu loạn thông tin. Thay vào đó, các ngân hàng thương mại nhà nước và
cao hơn là Ngân hàng Nhà nước cần xây dựng cơ chế định hướng kỳ vọng thông qua
việc công bố thông tin theo lộ trình và thăm dò phản ứng thị trường trước khi
ban hành chính sách.
Khi chính sách được công bố, thị trường đã có sự chuẩn bị và
phần nào hấp thụ trước, nhờ đó giảm thiểu cú sốc và rút ngắn độ trễ chính sách.
Điều này đòi hỏi thông tin phải được phản ánh đầy đủ và nhất quán, đặc biệt là
các chỉ số an toàn của hệ thống tài chính – ngân hàng.
Một vấn đề quan trọng hiện nay là các ngân hàng thương mại
nhà nước phải đồng thời theo đuổi nhiều mục tiêu: vừa bảo đảm an toàn hệ thống
và hiệu quả kinh doanh, vừa thực hiện các nhiệm vụ chính sách. Câu hỏi đặt ra
là: Làm thế nào để cân đối được các mục tiêu này?
Theo tinh thần của Nghị quyết 79, doanh nghiệp nhà nước
không phải sử dụng nguồn lực của mình để bù đắp cho các mục tiêu chính trị; nói
cách khác, mục tiêu chính sách cần được tách bạch với mục tiêu kinh doanh. Điều
này đặt ra yêu cầu đối với công cụ điều hành vĩ mô, đặc biệt là chính sách tiền
tệ. Nếu các ngân hàng thương mại nhà nước vừa phải bảo đảm hiệu quả kinh doanh,
vừa tham gia thực hiện các định hướng phát triển của Nhà nước, thì Ngân hàng
Nhà nước cần sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ chủ động hơn để hỗ trợ.
Trong bối cảnh đó, chính sách tiền tệ cấu trúc trở thành một
công cụ quan trọng. Khác với chính sách tiền tệ truyền thống, vốn chủ yếu điều
tiết tổng thể mặt bằng lãi suất, tỷ giá và cung tiền, chính sách tiền tệ cấu
trúc cho phép định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên cụ thể. Thông qua
các công cụ như tái cấp vốn, tái chiết khấu hoặc can thiệp trên thị trường thứ
cấp, Ngân hàng Nhà nước có thể cung cấp thanh khoản có điều kiện gắn với các mục
tiêu chính sách.
Ví dụ, nếu một ngân hàng thương mại nhà nước được yêu cầu
tham gia tài trợ cho một dự án hạ tầng trọng điểm với lãi suất ưu đãi, Ngân
hàng Nhà nước có thể cam kết tái cấp vốn tương ứng với quy mô khoản cho vay đó.
Nhờ vậy, ngân hàng thương mại vẫn có thể bảo đảm cân đối thanh khoản và hiệu quả
kinh doanh, đồng thời không làm xáo trộn mặt bằng lãi suất chung.
Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước cần sẵn sàng triển khai các
chính sách mang tính phản chu kỳ. Khi thị trường tăng trưởng nóng, cần có công
cụ kịp thời để kiềm chế rủi ro; ngược lại, khi nền kinh tế suy giảm và tâm lý
phòng thủ lan rộng, chính sách cần hỗ trợ phục hồi. Đồng thời, các chính sách
mang tính xuyên chu kỳ cũng cần được xây dựng nhằm tạo nền tảng ổn định dài hạn
cho hệ thống tài chính”.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 11-2026 phát hành ngày 16/03/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-11-2026.html

–
Nguồn tin: https://vneconomy.vn/thao-nut-that-von-va-no-xau-cung-co-vi-the-nha-tao-lap-thi-truong.htm
