Cafe Bệt

Nhịp sống trẻ mỗi ngày

Font ResizerAa
  • Thời Sự
  • Đời Sống
    • Góc Nhìn
  • Nhịp Sống Trẻ
    • Cơ Hội
    • Sự Kiện
    • Giải Trí
    • Cuộc Thi
  • Kiến Thức
    • Tài Chính
  • Kỹ Năng Sống
    • Sống Đẹp
  • Tuyển Dụng
  • Doanh Nghiệp
  • Công Nghệ
  • Thể Thao
Font ResizerAa

Cafe Bệt

Nhịp sống trẻ mỗi ngày

Search
  • Thời Sự
  • Đời Sống
    • Góc Nhìn
  • Nhịp Sống Trẻ
    • Cơ Hội
    • Sự Kiện
    • Giải Trí
    • Cuộc Thi
  • Kiến Thức
    • Tài Chính
  • Kỹ Năng Sống
    • Sống Đẹp
  • Tuyển Dụng
  • Doanh Nghiệp
  • Công Nghệ
  • Thể Thao
Have an existing account? Sign In
Follow US
© 2026 Cafe Bệt. All Rights Reserved.
Cafe Bệt > Blog > Kiến Thức > Kinh Tế > Tài Chính > Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs
Tài Chính

Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs

Last updated: 13/05/2026 10:54 am
Cafe Bệt
Share
SHARE

Bàn tròn kỳ này, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy ghi nhận các ý kiến về sự khác biệt giữa ngân hàng số và ngân hàng kiến tạo số, thực trạng triển khai tại Việt Nam, cũng như những điểm nghẽn về chuẩn mực, dữ liệu và bảo mật đang cản trở quá trình phát triển của mô hình ngân hàng kiến tạo số…

Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 1
Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 2
Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 3

“Nếu như trước đây, ngành ngân hàng tập trung vào quá trình
tin học hóa, thì hiện nay trọng tâm đã chuyển sang số hóa toàn diện. Ở cấp độ
cao hơn, “ngân hàng kiến tạo số” không chỉ dừng lại ở việc số hóa hoạt động mà
còn hướng tới việc tạo ra các giá trị mới trên nền tảng sẵn có, thông qua kết nối
với các lĩnh vực khác để hình thành hệ sinh thái. Có thể hình dung tiến trình
này qua ba cấp độ: ngân hàng truyền thống, ngân hàng số và ngân hàng kiến tạo số.

Hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện vẫn đang trong quá trình
chuyển đổi sang mô hình kiến tạo số nhưng chưa đạt sự đồng đều. Sự khác biệt thể
hiện ở nhiều khía cạnh, từ nền tảng công nghệ, nhận thức đến khả năng cung cấp
dịch vụ và tạo ra giá trị.

Một trong những yếu tố đáng chú ý là khung pháp lý và chính
sách đang trong quá trình hoàn thiện, hướng tới việc hình thành các quy chuẩn
chung phù hợp với yêu cầu phát triển của thị trường. Điển hình như mô hình ngân
hàng mở (Open Banking), nơi các tổ chức cần chia sẻ dữ liệu với đối tác và bên
thứ ba để phát triển dịch vụ. Trong bối cảnh đó, các ngân hàng đã chủ động xây
dựng tiêu chuẩn và giải pháp riêng, qua đó đặt ra yêu cầu tăng cường phối hợp
và thúc đẩy chuẩn hóa nhằm bảo đảm tính đồng bộ, đặc biệt trong các lĩnh vực
liên quan đến công nghệ và bảo mật.

Việc đánh giá xu hướng chủ đạo và mô hình nào thực sự có khả
năng “kiến tạo” tại Việt Nam hiện vẫn gặp khó khăn khi dữ liệu chưa thực sự đầy
đủ và đồng nhất. Do đó, năng lực chuyển đổi của ngân hàng phụ thuộc chủ yếu vào
nội lực, đặc biệt là nền tảng công nghệ và khả năng tổ chức triển khai.

Thực tế cho thấy, nhiều ngân hàng vẫn đang vận hành trên các
hệ thống core banking được triển khai từ nhiều năm trước, đòi hỏi lộ trình nâng
cấp phù hợp để đáp ứng các yêu cầu mới. Bên cạnh yếu tố công nghệ, sự phức tạp
trong việc xác định ưu tiên và cách thức triển khai cũng là nguyên nhân khiến
quá trình chuyển đổi diễn ra chậm và thiếu đồng bộ.

Bên cạnh đó, chiến lược “đi tắt, đón đầu” trong chuyển đổi số
giúp rút ngắn lộ trình phát triển, nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro khi bỏ qua các
giai đoạn tích lũy kinh nghiệm cần thiết. Điều này có thể dẫn đến những lỗ hổng
trong thiết kế hệ thống và quy trình, ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát rủi ro.

Trong bối cảnh hiện nay, việc khẳng định dữ liệu là nền tảng
hay cần một chiến lược quản trị dữ liệu xuyên suốt là hoàn toàn đúng nhưng đã
trở nên quá chung chung.

Thực tiễn triển khai MyData tại Hàn Quốc là một ví
dụ điển hình về việc hiện thực hóa quyền sở hữu dữ liệu của cá nhân thông qua
cách tiếp cận lấy người dùng làm trung tâm, tổ chức hệ sinh thái theo từng trường
hợp sử dụng cụ thể, với vai trò và ràng buộc được xác định rõ ngay từ khâu thiết
kế.

Cụ thể, Hàn Quốc triển khai MyData theo mô hình cấp phép bắt
buộc, chia sẻ dữ liệu thông qua API chuẩn hóa và dựa trên consent cụ thể của
khách hàng. Trong mỗi kịch bản, vai trò giữa chủ thể dữ liệu, bên cung cấp dữ
liệu, đơn vị kinh doanh MyData, bên xử lý và bên thứ ba được phân định rõ, có
thể thay đổi theo mục đích xử lý. Các DPA (Data Processing Agreement – Thỏa thuận
xử lý dữ liệu) và DPIA (Data Protection Impact Assessment – Đánh giá tác động bảo
vệ dữ liệu) được áp dụng gắn với từng luồng dữ liệu nhằm kiểm soát rủi ro chuỗi
cung ứng và phân định trách nhiệm khi xảy ra sự cố.

Cách tiếp cận này cho thấy quản trị dữ liệu không còn là chiến
lược tổng quát, mà là năng lực vận hành cụ thể gắn với sản phẩm, đối tác và kịch
bản sử dụng dữ liệu”.

Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 4
Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 5

“Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) chủ yếu là các doanh nghiệp
thâm dụng lao động hơn là thâm dụng vốn. Phần lớn chủ doanh nghiệp có nguồn lực
tài chính hạn chế, nên dựa nhiều vào sức lao động để duy trì hoạt động sản xuất
kinh doanh. Điều này lý giải vì sao quy mô của họ thường nhỏ, khó mở rộng và
khó phát triển thành doanh nghiệp lớn. Nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài vì vậy
cũng còn hạn chế, chưa đủ tạo động lực tăng trưởng, khiến nhiều doanh nghiệp
duy trì trạng thái manh mún trong thời gian dài.

Từ góc độ tiếp cận tín dụng của SMEs, có thể chỉ ra năm điểm
nghẽn chính.

Thứ nhất, yêu cầu
về tài sản bảo đảm – điều kiện gần như bắt buộc trong cho vay truyền thống.
SMEs thường không sở hữu nhiều tài sản giá trị lớn; phần lớn phải thuê mặt bằng,
máy móc thiết bị đơn giản, giá trị thấp, nên bất lợi so với doanh nghiệp lớn.

Thứ hai, hạn chế về
minh bạch thông tin. Doanh nghiệp lớn thường có hệ thống kế toán, báo cáo tài
chính và kiểm toán đầy đủ, tạo dựng được độ tin cậy với ngân hàng. Ngược lại,
nhiều SMEs chưa có hệ thống quản trị bài bản, thậm chí thiếu bộ phận kế toán. Dữ
liệu tài chính không đầy đủ, thiếu lịch sử hoạt động rõ ràng khiến ngân hàng
khó đánh giá hiệu quả kinh doanh và mức độ rủi ro.

Thứ ba, khó chứng
minh dòng tiền. Trong trường hợp không có tài sản thế chấp, ngân hàng có thể
xem xét cho vay dựa trên dòng tiền. Tuy nhiên, SMEs thường thiếu hợp đồng đầu
vào – đầu ra rõ ràng, dòng tiền thiếu ổn định, khiến ngân hàng không đủ cơ sở để
kiểm soát và ra quyết định cấp tín dụng.

Thứ tư, mức độ rủi
ro cao. Do hạn chế về năng lực quản trị, nhiều doanh nghiệp nhỏ vận hành theo
mô hình “một người làm nhiều việc”, thiếu hệ thống kiểm soát rủi ro chuyên nghiệp.
Điều này làm gia tăng xác suất rủi ro, khiến các tổ chức tín dụng thận trọng
hơn khi cho vay.

Thứ năm, bài toán
chi phí của ngân hàng. Quy trình thẩm định, giám sát và thu hồi nợ đối với một
khoản vay nhỏ gần như tương đương với khoản vay lớn, trong khi lợi nhuận lại thấp
hơn đáng kể. Điều này khiến các ngân hàng ít “mặn mà” với phân khúc SMEs nếu vẫn
áp dụng mô hình tín dụng truyền thống.

Bên cạnh đó, ngân
hàng không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp mà còn phải đảm bảo an toàn cho toàn hệ thống
tài chính. Nguồn vốn cho vay chủ yếu được huy động từ người dân, nên yêu cầu bảo
toàn vốn luôn được đặt lên hàng đầu. Các chuẩn mực quốc tế như Basel buộc ngân
hàng kiểm soát chặt rủi ro, khiến việc nới lỏng điều kiện tín dụng không thể thực
hiện một cách đơn giản. Việc áp dụng “thước đo chung” về tài sản bảo đảm, minh
bạch thông tin và quản trị rủi ro vì thế vô hình trung tạo lợi thế cho doanh
nghiệp lớn, đồng thời đặt SMEs vào thế bất lợi.

Để cải thiện khả năng tiếp cận vốn, cần có điều chỉnh từ cả
hai phía. Về phía ngân hàng, cần phát triển các phương thức cấp tín dụng linh
hoạt hơn, phù hợp với đặc thù của SMEs. Về phía doanh nghiệp, cần nâng cao năng
lực quản trị, minh bạch hóa thông tin và chuẩn hóa hoạt động để đáp ứng các
tiêu chí tín dụng.

Trong dài hạn, xu hướng chuyển dịch từ tín dụng dựa trên tài
sản thế chấp sang tín dụng dựa trên dữ liệu và dòng tiền được xem là tất yếu. Với
sự hỗ trợ của fintech, ngân hàng có thể khai thác dữ liệu từ nhiều nguồn như
giao dịch, thuế, chuỗi cung ứng… để đánh giá doanh nghiệp một cách toàn diện
hơn, thay vì phụ thuộc vào hồ sơ truyền thống. Mô hình này cho phép cấp vốn
linh hoạt theo nhu cầu thực tế, thậm chí theo từng giao dịch cụ thể, thay vì một
khoản vay lớn theo quy trình phức tạp. Tuy nhiên, để tham gia vào hệ sinh thái này,
SMEs cũng cần đẩy mạnh chuyển đổi số, đảm bảo dữ liệu minh bạch và sẵn sàng kết
nối.

Một công cụ quan trọng khác là quỹ bảo lãnh tín dụng. Đây là
cơ chế trung gian giúp giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng, đồng thời tạo điều kiện
để doanh nghiệp không có tài sản bảo đảm tiếp cận vốn. Về nguyên tắc, quỹ sẽ
cam kết thanh toán thay trong trường hợp doanh nghiệp không trả được nợ, qua đó
gia tăng niềm tin của tổ chức tín dụng, đặc biệt với nhóm doanh nghiệp có hồ sơ
tài chính chưa đầy đủ hoặc năng lực quản trị còn hạn chế.

Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của các quỹ bảo lãnh hiện vẫn
chưa đạt kỳ vọng. Nguyên nhân thứ nhất là quy mô vốn còn hạn chế, khiến khả
năng bảo lãnh bị thu hẹp và khó tạo niềm tin cho ngân hàng. Nguyên nhân thứ hai
là cơ chế vận hành còn mang nặng tính hành chính, thiếu linh hoạt và chưa theo
nguyên tắc thị trường, khiến hoạt động bảo lãnh chậm thích ứng với nhu cầu thực
tế và chưa tận dụng được các công cụ tài chính hiện đại.

Do đó, cần nâng cao năng lực tài chính và đổi mới cơ chế hoạt
động của các quỹ theo hướng thị trường, đồng thời đa dạng hóa nguồn vốn, huy động
thêm nguồn lực từ khu vực tư nhân và áp dụng các công cụ như tái bảo lãnh, phân
tán rủi ro. Chỉ khi các quỹ đủ mạnh và vận hành hiệu quả, công cụ bảo lãnh mới
thực sự trở thành “đòn bẩy” giúp SMEs tiếp cận vốn.

Từ thực tế trên, để cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng của
SMEs, cần một cách tiếp cận đồng bộ: đổi mới phương thức cấp tín dụng, thúc đẩy
chuyển đổi số doanh nghiệp, hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả các
công cụ hỗ trợ. Chỉ khi đó, khu vực doanh nghiệp này mới có thể phát huy đầy đủ
vai trò là động lực quan trọng của nền kinh tế.

Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 6
Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 7

“Việc cơ quan thuế tăng cường quản lý hóa đơn đầu vào, đầu
ra, cùng với triển khai hóa đơn điện tử và siết chặt các hành vi mua bán hóa
đơn trong thời gian gần đây đã góp phần nâng cao rõ rệt tính minh bạch của
doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Trước đây, tình trạng tồn tại nhiều hệ thống sổ sách khiến
thông tin tài chính thiếu độ tin cậy, trong khi cơ quan quản lý chủ yếu kiểm
soát hóa đơn đầu ra, dẫn đến khó phát hiện sai lệch ở đầu vào.

Khi mức độ minh bạch được cải thiện, chi phí thẩm định của
ngân hàng giảm đáng kể, qua đó tạo điều kiện mở rộng tín dụng tới khu vực doanh
nghiệp nhỏ và vừa. Trong bối cảnh đó, các nền tảng fintech đóng vai trò trung
gian, cung cấp hạ tầng dữ liệu giúp doanh nghiệp kê khai, hạch toán và tuân thủ
tốt hơn, đồng thời tối ưu chi phí vận hành. Đối với ngân hàng, đây là nguồn dữ
liệu có cấu trúc, giúp nâng cao hiệu quả đánh giá tín dụng, rút ngắn quy trình
thẩm định và tạo dư địa giảm lãi suất cho vay.

Thông qua phần mềm kế toán, toàn bộ chứng từ, hồ sơ pháp lý
và hợp đồng được số hóa và lưu trữ tập trung. Doanh nghiệp có toàn quyền quyết
định việc chia sẻ dữ liệu, có thể cung cấp toàn bộ hoặc lựa chọn từng phần theo
yêu cầu của ngân hàng. Dù vậy, nếu chia sẻ theo từng phần, doanh nghiệp có thể
phát sinh thêm chi phí thời gian do khối lượng chứng từ lớn.

Ở góc độ nền tảng, hệ thống đóng vai trò như một kho dữ liệu
số, cho phép lưu trữ và kết nối toàn bộ thông tin tài chính – kế toán. Khi được
doanh nghiệp chấp thuận, dữ liệu có thể được tự động chia sẻ tới các bên liên
quan, giảm thiểu thao tác thủ công. Nhờ tính liên kết và chuẩn hóa, ngân hàng
có thể dễ dàng truy xuất, thậm chí tiến tới tự động hóa quy trình thẩm định,
bao gồm ứng dụng AI.

Chẳng hạn, với dữ liệu hàng tồn kho, hệ thống có thể ngay lập
tức xác định nguồn gốc, hóa đơn và trạng thái thanh toán, qua đó nâng cao độ
tin cậy nếu được sử dụng làm cơ sở cấp tín dụng.

Về phía doanh nghiệp, việc số hóa chứng từ kết hợp với dịch
vụ kế toán bên ngoài giúp đơn giản hóa vận hành, cho phép tập trung nguồn lực
vào hoạt động kinh doanh cốt lõi”.

Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 8
Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 9

“Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số trong những năm gần
đây đã thúc đẩy ngành ngân hàng đổi mới mô hình hoạt động. Trong bối cảnh đó,
“ngân hàng kiến tạo số” được xem là cấp độ phát triển cao hơn của ngân hàng số.
Nếu ngân hàng số chủ yếu tập trung vào số hóa sản phẩm, dịch vụ và tối ưu trải
nghiệm khách hàng, thì ngân hàng kiến tạo số mở rộng vai trò sang một hướng tiếp
cận toàn diện hơn. Ngân hàng không chỉ cung cấp dịch vụ mà còn tham gia sâu vào
quá trình hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thông qua xây dựng hệ sinh thái số,
khai thác dữ liệu và cung cấp công cụ ra quyết định.

Nhờ hệ thống dữ liệu lớn và các nền tảng công nghệ tích hợp,
ngân hàng có thể giúp doanh nghiệp tiếp cận thông tin thị trường, khách hàng, đối
tác và cơ hội đầu tư một cách hiệu quả hơn. Qua đó, mô hình này không chỉ nâng
cao chất lượng dịch vụ mà còn góp phần giảm thiểu rủi ro và thúc đẩy tăng trưởng.

Về cấu trúc, ngân hàng kiến tạo số thường được hình thành
trên ba nền tảng chính. Một là, nền tảng
ngân hàng (banking platform), đóng vai trò trung tâm kết nối dịch vụ và dữ liệu,
cho phép doanh nghiệp tiếp cận toàn diện các công cụ phục vụ hoạt động kinh
doanh. Không chỉ dừng lại ở tín dụng hay thanh toán, nền tảng này còn cung cấp
dữ liệu về khách hàng, sản phẩm và thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp định hướng
chiến lược.

Hai là, mô hình
ngân hàng mở (open banking) kết hợp với API, cho phép chia sẻ dữ liệu giữa ngân
hàng với doanh nghiệp và các công ty fintech. Nhờ đó, ngân hàng chuyển từ một hệ
thống khép kín sang vai trò cung cấp dịch vụ nền tảng (Banking as a Service),
góp phần hình thành hệ sinh thái liên kết.

Ba là, các ứng dụng
tích hợp (siêu ứng dụng) và tài chính nhúng, cho phép tích hợp dịch vụ tài
chính trực tiếp vào các nền tảng kinh doanh, tạo trải nghiệm liền mạch và giúp
doanh nghiệp tiết kiệm chi phí vận hành.

Tuy nhiên, việc triển khai mô hình này tại Việt Nam vẫn đối
mặt với nhiều thách thức. Thứ nhất,
thách thức công nghệ, khi việc xây dựng và quản trị dữ liệu đòi hỏi hạ tầng hiện
đại cùng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về bảo mật và an toàn thông tin, trong khi
việc áp dụng trên thực tế chưa đồng bộ.

Thứ hai, yếu tố
con người cũng là rào cản lớn. Ngân hàng không chỉ cần nhân sự am hiểu công nghệ
mà còn phải có nền tảng tài chính và khả năng tư vấn, đồng hành cùng doanh nghiệp.
Điều này đòi hỏi thay đổi tư duy và văn hóa tổ chức, từ cách tiếp cận truyền thống
sang định hướng chủ động hỗ trợ phát triển.

Thứ ba, hành lang
pháp lý chưa theo kịp. Các vấn đề như chia sẻ dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư
hay ranh giới giữa “hỗ trợ” và “can thiệp” vào hoạt động doanh nghiệp vẫn chưa
rõ ràng, làm chậm quá trình hợp tác và tiềm ẩn rủi ro pháp lý.

Ở góc độ doanh nghiệp, ngân hàng kiến tạo số mang lại nhiều
lợi ích thiết thực. Trước hết là khả năng tiếp cận vốn được cải thiện nhờ
phương thức đánh giá dựa trên dữ liệu thực tế thay vì chỉ dựa vào tài sản bảo đảm.
Việc thẩm định không còn phụ thuộc vào hồ sơ tĩnh mà dựa trên dữ liệu liên tục,
đa chiều, giúp đánh giá sát thực hơn.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn được hưởng lợi từ hệ sinh thái
dữ liệu và mạng lưới kết nối do ngân hàng cung cấp. Thông qua việc khai thác dữ
liệu khách hàng và thông tin thị trường, doanh nghiệp có thể tìm kiếm đối tác,
mở rộng hợp tác và nâng cao hiệu quả hoạt động. Ngân hàng cũng có thể hỗ trợ
trong quản trị dòng tiền, tối ưu danh mục đầu tư và xây dựng chiến lược phát
triển dài hạn.

Tuy nhiên, để tham gia vào hệ sinh thái này, doanh nghiệp cần
đáp ứng những điều kiện nhất định. Phần lớn SMEs hiện vẫn hạn chế về nguồn lực,
năng lực quản trị và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn công nghệ. Trong khi đó,
mô hình ngân hàng kiến tạo số vận hành dựa trên nền tảng dữ liệu và kết nối hệ
thống, đòi hỏi doanh nghiệp phải có hạ tầng công nghệ, dữ liệu được số hóa và
khả năng chia sẻ thông tin.

Việc áp dụng đồng loạt các tiêu chuẩn này ngay từ đầu có thể
trở thành rào cản. Do đó, cần cách tiếp cận linh hoạt hơn, như triển khai thí
điểm với nhóm doanh nghiệp đủ điều kiện, từ đó hoàn thiện mô hình và mở rộng dần.

Trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy chuyển đổi số, việc hoàn
thiện chính sách cho ngân hàng kiến tạo số là yêu cầu cấp thiết. Trước hết, cần
triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) để đánh giá và hoàn thiện
mô hình. Đồng thời, cần phát triển nguồn nhân lực số, đầu tư hạ tầng công nghệ
và xây dựng các tiêu chuẩn kết nối chung.

Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo trong việc xây dựng hạ tầng
dùng chung, tạo điều kiện để doanh nghiệp tích hợp hệ thống và tham gia sâu hơn
vào hệ sinh thái số, đặc biệt là hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ tiếp cận
công nghệ ban đầu”.

Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 10
Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 11

“Thực tế, khái niệm “ngân hàng số” và “ngân hàng kiến tạo số”
không chỉ là sự khác biệt về thuật ngữ mà phản ánh hai cấp độ phát triển hoàn
toàn khác nhau của hệ thống ngân hàng. Ngân hàng số, theo cách hiểu phổ biến,
là việc ứng dụng công nghệ nhằm số hóa các sản phẩm, dịch vụ và quy trình vận
hành truyền thống. Ở mô hình này, ngân hàng chủ yếu đóng vai trò là nhà cung cấp
dịch vụ tài chính, từ tín dụng, thanh toán đến các tiện ích số, phục vụ nhu cầu
của cá nhân và doanh nghiệp.

Trong khi đó, ngân hàng kiến tạo số thể hiện một bước tiến
mang tính cấu trúc. Không còn dừng lại ở việc cung cấp dịch vụ, ngân hàng bắt đầu
khai thác sâu giá trị của dữ liệu và công nghệ để xây dựng các nền tảng mở.
Trên các nền tảng này, doanh nghiệp, đối tác và các công ty fintech có thể kết
nối, tương tác và cùng tham gia vào một hệ sinh thái chung. Khi đó, ngân hàng
trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị, trực tiếp góp phần tạo ra giá trị
cho doanh nghiệp, thay vì chỉ đứng bên ngoài hỗ trợ.

Việt Nam hiện đang ở ngưỡng chuyển giao từ ngân hàng số sang
ngân hàng kiến tạo số. Theo đó, một số tổ chức tài chính đã bắt đầu phát triển
mô hình “platform banking”, cho phép tích hợp hệ thống ngân hàng với hệ thống
quản trị doanh nghiệp như ERP thông qua API.

Tuy nhiên, ranh giới giữa hai mô hình này không nằm ở công
nghệ, mà ở mức độ tham gia của ngân hàng vào hoạt động cốt lõi của doanh nghiệp,
đặc biệt trong việc cung cấp dữ liệu và hỗ trợ ra quyết định. Khi ngân hàng
tham gia sâu hơn, giá trị mang lại có thể rất lớn, nhưng đồng thời cũng kéo
theo những rủi ro không nhỏ, nhất là khi ranh giới giữa “hỗ trợ” và “can thiệp”
trở nên mong manh.

Để kiểm soát vấn đề này, cần thiết lập những nguyên tắc nền
tảng. Trước hết, quyền kiểm soát dữ liệu phải thuộc về doanh nghiệp. Ngân hàng
có thể cung cấp hạ tầng, công cụ và dữ liệu phân tích, nhưng không thay thế vai
trò ra quyết định. Tiếp theo, tính minh bạch trong sử dụng dữ liệu cần được đảm
bảo, bao gồm phạm vi chia sẻ, mục đích sử dụng và trách nhiệm khi xảy ra sự cố.
Cuối cùng, bảo mật phải là điều kiện tiên quyết, bởi khi dữ liệu lan tỏa trong
toàn hệ sinh thái, chỉ một lỗ hổng nhỏ cũng có thể gây ra rủi ro diện rộng.

Xét từ góc độ doanh nghiệp công nghệ, thách thức lớn nhất hiện
nay không hoàn toàn là công nghệ mà là niềm tin. Cả ngân hàng và doanh nghiệp vẫn
còn dè dặt trong việc chia sẻ dữ liệu do lo ngại về an toàn thông tin và trách
nhiệm pháp lý, khiến quá trình kết nối và khai thác dữ liệu chưa đạt độ sâu cần
thiết.

Bên cạnh đó, vấn đề chuẩn hóa kỹ thuật, đặc biệt là API,
cũng là một điểm nghẽn đáng kể. Việc thiếu một bộ tiêu chuẩn chung khiến mỗi
ngân hàng triển khai một kiểu, buộc doanh nghiệp phải đầu tư nguồn lực lớn để
tích hợp riêng lẻ, đặc biệt bất lợi với SMEs.

Ngoài ra, năng lực bảo mật của nhiều ngân hàng chưa theo kịp
tốc độ mở rộng hệ sinh thái, dẫn đến tâm lý thận trọng, thậm chí trì hoãn triển
khai các mô hình mới.

Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp cũng cần nâng cao năng lực bảo
mật, quản trị dữ liệu và tuân thủ quy trình an toàn thông tin khi tham gia vào
các nền tảng kết nối. Đây là điều kiện cần để xây dựng niềm tin hai chiều – yếu
tố cốt lõi của mọi mô hình hợp tác dựa trên dữ liệu.

Về mặt pháp lý, việc hoàn thiện khung khổ quản lý là yêu cầu
cấp thiết. Trước hết, cần xây dựng hệ thống quy định rõ ràng về chia sẻ dữ liệu,
làm rõ quyền sở hữu dữ liệu và trách nhiệm của các bên khi tham gia trao đổi
thông tin. Đây là nền tảng để tạo dựng niềm tin trong hệ sinh thái.

Song song, cần thiết lập các tiêu chuẩn chung cho Open API
nhằm đảm bảo tính đồng bộ và khả năng mở rộng. Cơ quan quản lý nhà nước cần làm
tốt vai trò điều phối, không để các tổ chức tự phát triển riêng lẻ. Bên cạnh
đó, quản lý rủi ro từ bên thứ ba cũng cần được chú trọng thông qua các cơ chế
giám sát và đánh giá an toàn thông tin.

An ninh mạng và an ninh dữ liệu cần được đặt ở vị trí trung
tâm. Các tổ chức cần triển khai hệ thống giám sát theo thời gian thực để phát
hiện và xử lý sự cố kịp thời, đồng thời áp dụng nguyên tắc “bảo mật ngay từ thiết
kế” (security by design). Việc bổ sung giải pháp bảo mật sau khi hệ thống đã vận
hành không chỉ kém hiệu quả mà còn tiềm ẩn nhiều chi phí và rủi ro tái cấu trúc”.

Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 12

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 18 +19-2026 phát hành ngày 11/05/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây: 

Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.htm

Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 13

–


Nguồn tin: https://vneconomy.vn/ngan-hang-kien-tao-so-khoi-thong-tin-dung-cho-smes.htm

Share This Article
Email Copy Link Print
Previous Article Đồng Nai quy hoạch đô thị sân bay hơn 6.300 ha phía Tây Long Thành

Nhịp sống trẻ mỗi ngày!

Cùng cập nhật những tin tức nóng hổi, đa dạng về kinh tế, xã hội, văn hóa và giải trí. Đón nhận nhịp sống trẻ, năng động, và sáng tạo mỗi ngày.
FacebookLike
XFollow
PinterestPin
InstagramFollow
YoutubeSubscribe
TiktokFollow
- Advertisement -
Ad image

Đang được quan tâm

3 bộ môn “đáng tiền” nhất nhưng cần tránh 4 sai lầm này

Vận động ảnh hưởng thế nào đến cơ thể?Một nghiên cứu từ Đại học Newcastle…

By Cafe Bệt

ĐHĐCĐ Phát Đạt (PDR): Bước vào chu kỳ mới với kế hoạch lãi luỹ kế 11.800 tỷ đến năm 2030

Năm 2025 đánh dấu bước chuyển đáng kể của Phát Đạt khi lợi nhuận sau…

By Cafe Bệt

FPT giành hợp đồng quan trọng với tập đoàn điện lực Top 10 Nhật Bản, tăng tốc chinh phục thị trường 236 tỷ USD

Hợp đồng chuyển đổi số của FPT mở ra các cơ hội để doanh nghiệp…

By Cafe Bệt

Tin liên quan

Tài Chính

Giá vàng trong nước sụt mạnh ngay phiên đầu tuần

By Cafe Bệt
Tài Chính

Chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới thấp nhất kể từ cuối tháng 1/2026

By Cafe Bệt

Tỷ giá tham chiếu nhân dân tệ cao nhất 3 năm trước thềm thượng đỉnh Trung – Mỹ

By Cafe Bệt
Tài Chính

Bốn tháng đầu năm, ngành Thuế thu ngân sách vượt mốc 1 triệu tỷ đồng

By Cafe Bệt
Go to mobile version
Welcome Back!

Sign in to your account

Username or Email Address
Password

Lost your password?