Đến ngày 23/7, lãi suất huy động trực tuyến bình quân của 36 ngân hàng đạt khoảng 6,16%/năm (kỳ hạn 6 tháng) và 6,39%/năm (kỳ hạn 12 tháng). So với cuối tháng 6/2026, chỉ có 2 ngân hàng tăng lãi suất…
Ngân hàng Nhà nước cho biết đến cuối tháng 6/2026, lãi suất cho vay bình quân đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 8,1-10,5%/năm (Ảnh:PL)
So sánh biểu lãi suất huy động trực
tuyến tại thời điểm 30/6/2026 và 23/7/2026 cho thấy mặt bằng lãi suất của hệ
thống ngân hàng nhìn chung khá ổn định, chỉ có hai ngân hàng điều chỉnh là ACB và Bắc Á.
Cụ thể, Bắc Á tăng lãi suất đồng đều 0,2 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn niêm yết,
gồm 1 tháng (4,55% lên 4,75%/năm),
3 tháng (4,55% lên 4,75%/năm),
6 tháng (6,85% lên 7,05%), 9 tháng (6,85% lên 7,05%), 12 tháng (6,90% lên 7,1%)
và 18 tháng (6,75% lên 6,95%). Trong khi đó, ACB chỉ điều chỉnh ở các kỳ hạn
trung và dài, với mức tăng mạnh hơn, lên tới 0,5 điểm phần trăm; cụ thể: lãi suất kỳ hạn 6 tháng tăng từ 7,1%
lên 7,6%, kỳ hạn 9 tháng từ 7,20% lên 7,7% và kỳ hạn 12 tháng từ 7,3% lên 7,8%,
còn kỳ hạn 1 và 3 tháng giữ nguyên ở mức 4,75%.
Theo bảng lãi suất huy động trực tuyến khảo sát ngày 23/7, kỳ hạn
ngắn từ 1–3 tháng ghi nhận mức lãi suất cao nhất là 4,75%/năm. Có 15 ngân
hàng cùng áp dụng mức lãi suất này, gồm Agribank, BIDV, Vietcombank,
VietinBank, ACB, Bac A Bank, BaoVietBank, BVBank, MSB, OCB, PGBank, PVcomBank,
Saigonbank, TPBank và VCBNeo. Trong khi đó, các ngân hàng còn lại niêm yết lãi
suất thấp hơn, dao động chủ yếu
quanh 4,5 đến 4,7%/năm.
Kỳ hạn 6
tháng ghi nhận sự phân hóa rõ giữa các ngân hàng. ACB dẫn đầu với mức 7,6%/năm,
vượt nhóm bám đuổi gồm Bac A Bank 7,05%, MBV và VCBNeo 7%, PGBank và Saigonbank
6,9%, LPBank 6,8% cùng BVBank 6,7%. Nhóm Big4 gồm Agribank, BIDV, Vietcombank
và VietinBank cùng niêm yết 6,6%, ngang BaoVietBank và OCB, cho thấy mặt bằng
khá ổn định. Techcombank đạt 6,55%, trong khi Nam A Bank và Sacombank cùng ở
6,4%, MSB 6,3%, ABBank 6,25%, NCB và SHB 6,2%, TPBank 6,05%. Các ngân hàng còn
lại dưới 6% gồm Viet A Bank, Vikki Bank, VPBank, VietBank, MB, VIB,
KienlongBank, Eximbank, PVcomBank, GPBank, HDBank, SeABank và SCB.
Kỳ hạn 12
tháng tiếp tục là kỳ hạn cạnh tranh nhất giữa các ngân hàng. ACB dẫn đầu với
7,8%/năm, bỏ
xa phần lớn đối thủ. Xếp sau là Saigonbank với 7,2%/năm, Bắc Á
đạt 7,1%/năm,
trong khi MBV, PGBank, VCBNeo và VIB
cùng niêm yết 7%/năm.
Nhóm lãi suất từ 6,8–6,9%/năm
gồm LPBank, BVBank, OCB, MSB và bốn ngân hàng quốc doanh Agribank, BIDV,
Vietcombank, VietinBank. Techcombank đạt 6,75%/năm, BaoVietBank 6,7%, Nam A
Bank và Sacombank 6,6%,
SHB 6,5%, NCB 6,4%, MB 6,35%, ABBank
và TPBank 6,25%. Các
ngân hàng còn lại chủ yếu dao động từ 5,3–6,1%/năm, gồm Viet A Bank,
VietBank, Vikki Bank, VPBank, PVcomBank, Eximbank, HDBank, KienlongBank, GPBank
và SeABank.
Các mức lãi suất tiết kiệm đề cập trong bài đều dành cho tiền gửi có kỳ hạn của khách hàng cá nhân, lĩnh lãi cuối kỳ. Các ngân hàng đều có những chính sách lãi suất riêng áp dụng cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau, tuỳ thuộc vào giá trị tiền gửi. Ngoài ra, mức lãi suất huy động thực tế có thể thay đổi tùy vào tình hình cân đối vốn của từng chi nhánh ngân hàng.
Nguồn tin: https://vneconomy.vn/lai-suat-tiet-kiem-ngan-hang-nao-cao-nhat-thang-72026.htm
