Trong 15 ngày đầu tháng 3/2026, cán cân thương mại tiếp tục thâm hụt hơn 530 triệu USD dù kim ngạch nhập khẩu giảm mạnh. Diễn biến này phản ánh sự chênh lệch tích lũy từ đầu năm, trong đó khu vực FDI tiếp tục chi phối cả xuất khẩu và nhập khẩu, khiến cán cân thương mại duy trì trạng thái nhập siêu…
Theo báo cáo sơ bộ từ Cục
Hải quan, trong nửa đầu tháng 3/2026 (từ ngày 1 – 15/3), tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá
Việt Nam đạt khoảng 41,23 tỷ USD, giảm nhẹ 1,06% so với kỳ 1 tháng 2/2026 và tăng tới 15,05% so với cùng kỳ năm ngoái.
Lũy
kế từ đầu năm đến hết ngày 15/3/2026,
tổng trị giá xuất nhập khẩu đạt 197,13
tỷ USD, tăng 20,78% so với
cùng kỳ năm 2025.
Xét riêng chiều xuất khẩu tổng
trị giá xuất khẩu kỳ 1 tháng 3/2026 đạt khoảng 20,35 tỷ USD, gần tương đương
với mức thực hiện của nửa đầu tháng trước nhưng lũy kế từ đầu năm đến giữa tháng 3 đạt gần 96,8 tỷ USD, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm ngoái.
Cơ cấu xuất khẩu tiếp tục nghiêng mạnh về nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo, đặc biệt là các sản phẩm công
nghệ cao. Sự tăng trưởng tương đối đồng đều của các nhóm hàng chủ lực này phản ánh tín hiệu tích cực từ chuỗi cung ứng toàn cầu.
Nổi bật, nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện
với kim ngạch lũy kế đạt khoảng 26,7 tỷ USD, tăng 40,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Riêng trong kỳ 1 tháng 3,
nhóm này cũng ghi nhận mức tăng tới 26,67%, cho thấy nhu cầu thị trường quốc tế
đang phục hồi rõ rệt, đặc biệt trong lĩnh vực điện tử.
Cùng với đó, điện thoại và linh kiện đạt luỹ kế khoảng
14,16 tỷ USD, tăng hơn 23% so
với cùng kỳ. Nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác cũng ghi nhận mức
tăng hơn 18%, đạt quy mô gần 11,64 tỷ USD.

Xuất khẩu vẫn thiếu
động lực tăng tốc ngắn hạn, đặc biệt
là liên quan đến nhóm may mặc. Nhiều mặt hàng ghi nhận mức tăng
trưởng rất cao trong kỳ nhưng lũy kế lại không tương ứng, thậm chí thấp hơn.
Chẳng hạn, xơ, sợi dệt tăng tới 36,57% trong kỳ 1 tháng 3 nhưng lũy kế
chỉ tăng 1,58%. Tương tự, vải mành, vải kỹ thuật tăng hơn 14% trong kỳ
nhưng lũy kế lại giảm 3,54%. Đáng chú ý, hàng dệt may giảm hơn 24% trong kỳ,
song lũy kế gần như đi ngang. Điều này cho thấy hoạt động
xuất khẩu đang phụ thuộc đáng kể vào tiến độ giao hàng và đơn hàng ngắn hạn,
thay vì duy trì được sự ổn định theo chu kỳ dài.
Mặc dù xuất khẩu nhóm công nghiệp chế biến,
chế tạo tăng mạnh, song động lực tăng trưởng vẫn chủ yếu đến từ khu vực doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).
Trong kỳ 1 tháng 3, khối FDI đạt kim ngạch
khoảng 16,39 tỷ USD, chiếm gần 80% tổng xuất khẩu và tăng 3,76% so với kỳ
trước. Lũy kế từ đầu năm, khu vực này đạt 76,68 tỷ USD, tăng tới 29,96%.
Diễn biến này cho thấy xuất khẩu của Việt Nam
vẫn phụ thuộc lớn vào khu vực doanh nghiệp ngoại, đặc biệt trong các ngành công
nghệ cao.
Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu của khu vực trong nước trong kỳ giảm hơn 600 triệu USD cho thấy năng lực cạnh
tranh còn hạn chế, đồng thời đặt ra vấn đề về tính tự chủ và khả năng lan tỏa
của tăng trưởng xuất khẩu.
Đáng chú ý, nhóm nguyên, nhiên liệu ghi nhận xu hướng suy giảm mạnh. Tính riêng kỳ 1 tháng 3, kim ngạch xuất khẩu xăng
dầu giảm tới gần 93% và mặt hàng
than đá cũng giảm 91,76%.
Ở chiều ngược lại, trong 15 ngày đầu tháng 3/2026, tổng kim ngạch nhập khẩu đạt
khoảng 20,88 tỷ USD, giảm 2,02% so
với kỳ 1 tháng 2/2026. Tính lũy kế từ đầu năm đến hết ngày 15/3, kim ngạch nhập
khẩu đạt khoảng 100,32 tỷ USD, tăng tới 24,57% so với cùng kỳ năm 2025.
Cơ cấu nhập khẩu tiếp tục tập trung chủ yếu vào nhóm hàng tư liệu sản xuất,
trong đó nổi bật là các mặt hàng phục vụ công nghiệp chế biến, chế tạo.
Nhập khẩu ô tô
nguyên chiếc trong kỳ 1 tháng 3 tăng gấp đôi so với nửa đầu tháng 2 và tăng hơn
50% so với cùng kỳ năm trước, đưa kim ngạch lũy kế lên khoảng 1,07 tỷ USD..
Trong khi đó, dù hai nhóm
hàng chủ lực là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, cùng với máy móc,
thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đều đạt quy mô cao nhất trên 1 tỷ USD trong kỳ, nhưng tốc độ
tăng trưởng lại có sự chững lại.

So với kỳ 1 tháng 2, trị giá nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh
kiện chỉ tăng hơn 3% trong khi máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác giảm gần
17%. Sự suy giảm của một trong những nhóm hàng đầu vào quan trọng này đã kéo chậm lại đà tăng trưởng chung của nhập khẩu trong kỳ.
Diễn biến này cần được đặt trong bối cảnh tình hình địa chính trị toàn cầu tiếp tục tiềm ẩn nhiều bất ổn, khi các xung đột kéo dài tại một số khu vực vẫn gây gián đoạn chuỗi cung ứng năng lượng và khiến nhu cầu tiêu thụ chưa phục hồi rõ rệt. Điều này kéo theo sự suy giảm của các mặt hàng như khí đốt, xăng dầu trong cơ cấu nhập khẩu.
Bên cạnh đó, đà tăng trưởng nhập khẩu chững lại còn xuất phát từ sự sụt giảm
mạnh của nhóm năng lượng. Cụ thể, khí đốt hóa lỏng giảm hơn 32%, trong khi các
sản phẩm khác từ dầu mỏ giảm tới hơn 62% so với kỳ 1 tháng 2.
Tương tự như ở chiều xuất khẩu, trong kỳ 1 tháng 3, xuất khẩu nhóm công nghiệp
chế biến, chế tạo giảm mạnh kéo theo kim ngạch nhập
khẩu của khu vực FDI đạt
khoảng 15,1 tỷ USD, giảm hơn 1,6% so với nửa đầu tháng
2. Tuy nhiên, lũy
kế từ đầu năm, nhập khẩu của khối FDI vẫn tăng
tới hơn 40%.
Từ góc độ chuỗi giá trị, khu vực FDI đóng vai trò trung tâm trong việc
kết nối các công đoạn của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Việc nhập khẩu tăng mạnh ở
khu vực này, đặc biệt trong các nhóm hàng cung cấp đầu vào thiết yếu cho hoạt động sản xuất, gia công và lắp ráp phục
vụ xuất khẩu cho thấy hoạt động sản xuất đang được mở rộng.
Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh của nhập khẩu khu vực FDI cũng đặt ra vấn đề đầu
vào sản xuất vẫn lệ thuộc vào nguồn
cung từ bên ngoài. Rủi ro càng rõ
nét trong bối cảnh tình hình địa chính trị toàn cầu bất định, ảnh hưởng đến dòng chảy thương mại.
Ở góc độ khác, tỷ lệ nội địa hóa trong nhiều
ngành công nghiệp, đặc biệt là điện tử và cơ khí, chưa cao khiến doanh nghiệp
nội địa chưa thể thay thế vai trò cung ứng đầu vào, từ đó làm giảm khả năng lan
tỏa của khu vực FDI sang khu vực
kinh tế trong nước.
Trong
nửa đầu tháng 3/2026, cán cân thương mại hàng hoá tiếp tục giữ trạng
thái thâm hụt với mức nhập siêu 530,24 triệu USD. Lũy kế từ đầu
năm đến hết ngày 15/3, cán cân thương mại thâm hụt lên tới 3,51 tỷ USD.
Việc duy trì trạng thái thâm hụt thương mại trong thời gian dài có thể
tạo áp lực nhất định lên cán cân thanh toán tổng thể.
Bên cạnh đó, áp lực lên tỷ giá cũng có thể gia tăng khi nhu cầu ngoại tệ phục
vụ nhập khẩu tăng cao trong khi nguồn cung từ xuất khẩu chưa theo kịp.
-Hoàng Sơn
Nguồn tin: https://vneconomy.vn/can-can-thuong-mai-tham-hut-hon-530-trieu-usd-trong-nua-dau-thang-32026.htm
