Trong bối cảnh yêu cầu phát triển bền vững và giảm phát thải ngày càng rõ nét, việc thúc đẩy phát triển vật liệu xây dựng xanh đang đặt ra nhiều yêu cầu về đổi mới cách tiếp cận, từ khâu thiết kế, hoàn thiện cơ chế thực thi đến nâng cao nhận thức thị trường, nhằm bảo đảm triển khai đồng bộ và hiệu quả hơn…
Tại một hội thảo chuyên ngành về vật liệu xây dựng
xanh, ông Trần Bá Việt, Phó chủ tịch Hội Bê tông
Việt Nam, cho biết Bộ Xây dựng đang chủ trì soạn thảo Nghị định Quản lý vật liệu
xây dựng thay thế Nghị định số 09/2021/NĐ-CP. Theo đó, các quy định của Nghị định
thay thế cần được cụ thể hóa ngay từ khâu thiết kế. Thiết kế phải là điểm xuất
phát, từ thiết kế sản phẩm, thiết kế công nghệ đến thiết kế công trình, để có
thể lượng hóa rõ ràng mỗi m2 công trình sẽ giảm được bao nhiêu chi phí.
Ngoài ra, nhiều nội dung liên
quan đến tiết kiệm năng lượng mới dừng ở mức khuyến khích, chưa mang tính bắt
buộc. Vì vậy, cần có lộ trình để từng bước áp dụng, phù hợp với điều kiện thực
tế.
CHÚ TRỌNG ĐẾN VAI TRÒ CỦA NGƯỜI MUA
Một điểm quan trọng khác, theo ông
Việt là việc thay đổi cách tiếp cận, không chỉ tập trung vào khâu sản xuất vật
liệu, mà nên chú trọng cả từ phía người sử dụng. Người quyết định cuối cùng là
chủ đầu tư, họ sẽ lựa chọn vật liệu xanh khi thấy rõ hiệu quả kinh tế. Do đó, yêu
cầu về sử dụng vật liệu xanh cần tích hợp ngay trong thiết kế công trình, nhất là
thiết kế kết cấu – nơi tiêu thụ nhiều xi măng, bê tông và cũng phát sinh chi
phí, phát thải lớn nhất.
“Thực tế cho thấy phát thải và
tiêu thụ năng lượng tập trung ở lĩnh vực vật liệu xây dựng chiếm tỷ trọng rất
lớn trong tổng thể nền kinh tế. Nếu không tác động được vào khu vực này thì những
nỗ lực còn lại chỉ mang tính cục bộ, hiệu quả không cao”, ông Việt nhấn mạnh.
Chia sẻ quan điểm, ông Lê Quang
Hùng, Chủ tịch Hội Bê tông Việt Nam, cho rằng phải rà soát và định hướng một
cách cụ thể, đồng bộ nhằm thúc đẩy phát triển vật liệu xây dựng xanh. Trước hết
là xem xét làm rõ các khái niệm và xây dựng hệ thống mã định danh thống nhất
cho vật liệu xanh, đặc biệt, trong bối cảnh đang xây dựng các chính sách liên
quan như Nghị định quản lý vật liệu xây dựng thay thế Nghị định số
09/2021/NĐ-CP. Việc chuẩn hóa các khái niệm giúp tránh chồng chéo, tạo nền tảng
cho quản lý và triển khai hiệu quả.
Để vật liệu xanh thực sự đi vào
cuộc sống, ông Hùng cũng lưu ý đến xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ từ Nhà nước như ưu tiên sử dụng trong công trình đầu tư công, đồng thời tham khảo kinh nghiệm
quốc tế nhằm hoàn thiện khung chính sách phù hợp với điều kiện Việt Nam. Việc
giảm giá thành sản phẩm, tăng cường truyền thông để người dân và doanh nghiệp
hiểu rõ lợi ích là rất cần thiết.
Theo ông Hùng, căn cứ Nghị định số
06/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ
tầng ozon, các lĩnh vực trong phạm vi quản lý ngành xây dựng trước khi sáp nhập
gồm: quá trình công nghiệp; tiêu thụ năng lượng trong sản xuất xi măng, tòa nhà…
đặt mục tiêu đến năm 2030 giảm phát thải khí nhà kính tối thiểu 74,3 triệu tấn
CO2, tương đương so với kịch bản phát thải thông thường.
Trong đó, lĩnh vực khai thác
khoáng sản, chế biến và sản xuất vật liệu xây dựng đang chiếm phần lớn lượng
khí thải nhà kính cần cắt giảm của ngành xây dựng. Vì vậy, khai thác, sản xuất
vật liệu xây dựng là một lĩnh vực ưu tiên của giảm phát thải khí nhà kính.
KHÔNG CHỈ ĐỊNH HƯỚNG MÀ PHẢI CÓ TÍNH KHẢ THI CAO
Ông Lê Văn Kế, Phó Vụ trưởng Vụ
Khoa học công nghệ, môi trường và Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng), cho rằng với
vai trò là cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành, Bộ Xây dựng đã định hướng xây
dựng khung chính sách và tiêu chí, làm cơ sở cho việc triển khai.

Tuy nhiên, về
những chính sách hỗ trợ cụ thể như ưu đãi thuế, thẩm quyền không thuộc Bộ Xây
dựng mà thuộc Bộ Tài chính và phải được quy định trong các luật liên quan, do
Quốc hội thông qua. Bộ Xây dựng chủ yếu đóng vai trò đề xuất, kiến nghị Chính
phủ giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành liên quan nghiên cứu và ban hành chính sách
hỗ trợ phù hợp.
Song, quan điểm xuyên suốt là cần
cơ chế hỗ trợ đủ mạnh, đặc biệt đối với loại vật liệu mới, vật liệu xanh – những
lĩnh vực mang tính định hướng cho tương lai. Chúng tôi sẽ đề xuất lồng ghép
tiêu chí xanh vào các công cụ chính sách như Luật Đấu thầu. Theo đó, dự án, sản
phẩm đáp ứng tiêu chí tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường được ưu tiên,
nhất là trong công trình sử dụng vốn Nhà nước.
Mục tiêu của chính sách không chỉ
dừng ở định hướng mà phải có tính khả thi cao, thực sự hỗ trợ doanh nghiệp
trong quá trình chuyển đổi. Đồng thời, hệ
thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cũng được định hướng xây dựng theo hướng
tiệm cận quốc tế, bảo đảm sự tương thích giữa sản phẩm vật liệu xây dựng trong
nước với các tiêu chuẩn nước ngoài, qua đó, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc
đẩy hội nhập.
Theo bà Nguyễn Thị Tâm, Giám đốc
Trung tâm môi trường cơ khí xây dựng, Viện Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng),
tại Việt Nam, xu hướng sử dụng vật liệu tiết kiệm năng lượng, vật liệu xanh, vật
liệu tái chế, vật liệu phát thải thấp, vật liệu cách âm, vật liệu không hoặc ít
gây hại cho sức khỏe con người ngày càng phổ biến.
Vì vậy, giải pháp và chiến lược quan
trọng là tiếp tục hoàn thiện các tiêu chuẩn, chính sách hỗ trợ và khuyến khích
sử dụng vật liệu tái chế và tái tạo. Đồng thời, phát triển các công cụ quản lý,
chính sách hỗ trợ phát triển vật liệu tiết kiệm năng lượng, vật liệu tái chế, vật
liệu mới; đầu tư hạ tầng tái chế chất thải, hạ tầng kiểm soát chất lượng sản phẩm;
xây dựng cơ sở dữ liệu về vật liệu xanh, vật liệu tiết kiệm năng lượng, vật liệu
tái chế, vật liệu mới để nhà sản xuất người tiêu dùng lựa chọn cho phù hợp.
-Hoàng Bách
Nguồn tin: https://vneconomy.vn/phat-trien-vat-lieu-xanh-can-tiep-can-bai-ban-va-di-vao-thuc-chat.htm
