Trong tiến trình cơ cấu lại vốn nhà nước, Nghị định 57/2026/NĐ-CP đặt trọng tâm vào việc mở rộng quyền sở hữu cổ phần cho người lao động, đi kèm các ràng buộc về thời gian nắm giữ và trách nhiệm cam kết làm việc nhằm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động…
Một nội dung đáng chú ý tại Nghị định số 57/2026/NĐ-CP của Chính phủ
về cơ cấu lại vốn nhà
nước tại doanh nghiệp là chính
sách đối với người lao động khi cổ phần hóa doanh nghiệp.
Liên quan đến chính sách
bán cổ phần cho người lao động, Nghị định nêu rõ ba nhóm đối tượng được
tham gia mua cổ phần với giá ưu đãi bao gồm: (i) người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và người
quản lý doanh nghiệp tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp; (ii) người lao động được cử làm đại diện phần
vốn nhà nước tại doanh nghiệp khác nhưng chưa từng hưởng chính sách ưu đãi và (iii) người
lao động và người quản lý của doanh
nghiệp cấp II chưa được hưởng quyền lợi này khi doanh nghiệp cấp I thực hiện cổ
phần hóa.
Theo quy định, người lao động được mua tối đa 100 cổ phần cho mỗi năm thực tế làm việc trong khu vực nhà nước với mức giá bằng 60% mệnh giá, tương đương 6.000 đồng/cổ phần theo mệnh giá là 10.000 đồng/cổ.
(Nghị định 57/2026/NĐ-CP)
Đối với người lao động đại diện cho hộ gia đình nhận khoán, nếu tại thời điểm xác định giá trị doanh
nghiệp cổ phần hóa có hợp đồng nhận khoán ổn định lâu dài với công ty nông, lâm
nghiệp thì khi chuyển
sang công ty cổ phần được mua tối đa 100 cổ phần cho mỗi năm thực tế đã nhận
khoán với giá bán bằng 60% mệnh giá.
Theo đó, phần chênh
lệch giữa giá bán cho người lao động so với mệnh giá cổ phần được trừ vào giá
trị phần vốn nhà nước khi quyết toán tại thời điểm doanh nghiệp chính thức
chuyển thành công ty cổ phần.
Nghị định nhấn mạnh, số cổ phần ưu đãi người lao động phải nắm giữ tối thiểu
ba năm kể từ thời điểm nộp tiền mua và không được chuyển nhượng trong thời gian
này. Đồng thời, tổng
giá trị cổ phần bán ưu đãi tính theo mệnh giá không được vượt quá giá trị phần
vốn chủ sở hữu theo sổ sách kế toán tại thời điểm xác định giá trị doanh
nghiệp.
Bên cạnh cơ chế ưu đãi, Nghị định 57/2026/NĐ-CP còn thiết kế chính sách mua
thêm cổ phần dành cho những người lao động thuộc diện doanh nghiệp cần tiếp tục
sử dụng và có cam kết làm việc tối thiểu ba năm kể từ khi doanh nghiệp được cấp
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu.
Giá bán đối với số cổ phần mua thêm là giá khởi điểm do cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt trong phương án cổ phần hóa. Số cổ phần mua thêm được tính theo thời gian cam kết tiếp tục làm việc tối đa đến khi đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật
(Nghị định 57/2026/NĐ-CP)
Theo đó, người lao động được mua thêm 200 cổ phần cho mỗi năm cam kết làm
việc, tối đa không quá 2.000 cổ phần. Riêng các chuyên gia giỏi, có trình độ
chuyên môn cao, mức mua thêm có thể lên tới 500 cổ phần mỗi năm cam kết và tối
đa 5.000 cổ phần.
Doanh nghiệp cổ phần hóa có trách nhiệm xây dựng tiêu chí xác định chuyên
gia giỏi, phù hợp với đặc thù ngành nghề và phải được Hội nghị người lao động
thông qua trước khi thực hiện.
“Mỗi người lao động chỉ
được hưởng một trong hai mức mua thêm nêu trên. Số cổ phần mua thêm sẽ được chuyển đổi thành cổ phần phổ thông sau
khi người lao động hoàn thành thời gian cam kết”, Nghị định 57/2026/NĐ-CP nêu rõ.
Trường hợp công ty cổ phần thay đổi cơ cấu,
công nghệ, di dời hoặc thu hẹp địa điểm sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền dẫn đến người lao động phải chấm dứt hợp đồng
lao động trước thời hạn cam kết thì số cổ phần đã mua thêm vẫn được chuyển đổi thành cổ phần phổ thông.
Các doanh nghiệp tái cơ cấu thông qua Công ty Mua bán nợ Việt Nam, người lao động cũng được áp dụng các chính sách về giá ưu đãi và mua thêm tương tự, căn cứ vào điều kiện cụ thể và phương án tái cơ cấu được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Nghị định 57/2026/NĐ-CP quy định nếu người lao động có nhu cầu bán lại cho doanh nghiệp, công ty cổ phần có
trách nhiệm mua lại với giá sát với giá giao dịch trên thị trường.
Ngược lại, nếu người lao động chấm dứt hợp đồng lao động trước
thời hạn cam kết thì phải bán lại cho công ty cổ phần toàn bộ số cổ phần đã
được mua thêm với giá sát giá giao dịch trên thị trường nhưng không vượt quá
giá đã mua tại thời điểm cổ phần hóa.
Ngoài số cổ phần mua theo diện ưu đãi và cam kết, nếu có nhu cầu mua thêm,
người lao động phải tham gia đấu giá công khai như các nhà đầu tư khác, bảo đảm
nguyên tắc minh bạch và bình đẳng, Nghị định nhấn mạnh.
Song song với chính sách nắm giữ cổ phần, Nghị
định 57/2026/NĐ-CP cũng quy định rõ cơ chế xử lý đối với lao động dôi dư.
Theo đó, người lao động làm việc
theo hợp đồng lao động và người lao động của doanh nghiệp cổ phần hóa tại thời
điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa đã được cử xuống làm đại diện
phần vốn tại các doanh nghiệp khác mà không bố trí được việc làm tại công ty cổ
phần theo phương án sử dụng lao động sẽ được hưởng chính sách đối với người lao
động dôi dư theo quy định của pháp luật.
Đối với người quản lý doanh nghiệp, cơ quan
đại diện chủ sở hữu có trách nhiệm xem xét, quyết định bố trí công việc. Trường
hợp đã áp dụng mọi biện pháp nhưng không thể sắp xếp, người quản lý sẽ được
hưởng chính sách tương tự tinh giản biên chế theo quy định.
Với người quản lý tại doanh nghiệp cấp II, thẩm quyền bố trí thuộc về Hội
đồng thành viên hoặc Chủ tịch doanh nghiệp nhà nước; nếu không bố trí được việc
làm thì thực hiện giải quyết theo pháp luật lao động.
Ba hình thức cổ phần hóa doanh nghiệp tại Nghị định 57/2026/NĐ-CP bao gồm:
1. Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ.
2. Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán bớt một phần vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu đế tăng vốn điều lệ.
3. Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán toàn bộ vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ.
(Nghị định 57/2026/NĐ-CP)
-Hoàng Sơn
Nguồn tin: https://vneconomy.vn/tang-so-huu-co-phan-cho-nguoi-lao-dong-khi-tai-co-cau-doanh-nghiep-nha-nuoc.htm