Xuất khẩu phục hồi mạnh trong nửa cuối tháng 1/2026 giúp cán cân thương mại chuyển sang trạng thái thặng dư, song cả tháng, vẫn nhập siêu gần 1,8 tỷ USD. Đáng chú ý, khu vực FDI tiếp tục giữ vai trò chi phối cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu…
Theo báo cáo sơ bộ từ Cục
Hải quan, trong nửa cuối tháng 1/2026 (từ ngày 16 – 31/1), tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng
hoá Việt Nam đạt khoảng 48,58 tỷ USD, tăng 23,48% so với kỳ 1 tháng 1/2026 và tăng
tới 41,56% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính chung cả tháng 1/2026, trị giá xuất nhập
khẩu đạt 88,16 tỷ USD, tăng 23,48% so với năm 2025.
Xét riêng
xuất khẩu, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam
trong 15 ngày cuối tháng 1 đạt 25,08 tỷ
USD, tăng 38,94% so với nửa đầu tháng 1/2026. Động lực tăng trưởng chủ yếu
vẫn đến từ khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao như điện tử,
điện thoại và máy móc, thiết bị.
Tính riêng 3 nhóm hàng chủ lực gồm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; điện thoại các loại và linh kiện cùng máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác chiếm gần 60% tổng kim ngạch xuất khẩu của khối FDI. Điều này phản ánh vị thế chi phối của các tập đoàn đa quốc gia trong cơ cấu xuất khẩu Việt Nam, đặc biệt ở các ngành công nghệ cao, thâm dụng vốn và gắn chặt với chuỗi cung ứng toàn cầu.
Cụ
thể, so với 15 ngày đầu tháng 1/2026, nhóm điện thoại các loại và linh kiện tăng cao nhất lên tới 1,58 tỷ USD (tương đương 77,12%). Theo
sau là nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng
khác tăng 1,13
tỷ USD (tương đương 52,99%).
Cuối cùng là nhóm máy vi tính, sản phẩm
điện tử và linh kiện tăng 1,09 tỷ USD (tương đương 25,89%). Đây cũng là ba nhóm hàng duy nhất
có mức tăng trên 1 tỷ USD, cho thấy cơ cấu xuất khẩu tiếp tục tập trung cao vào
các ngành công nghiệp công nghệ cao, thâm dụng vốn và kỹ thuật.
Mặc dù là ba nhóm
hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong những năm gần đây, phản ánh vai trò
ngày càng lớn của ngành điện tử trong cơ cấu xuất khẩu. Tuy nhiên, trị giá xuất
khẩu của nhóm hàng này chủ yếu đến từ khu vực doanh nghiệp
có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI).
Theo đó, trong tháng 1/2026, tổng trị giá xuất khẩu của khu vực FDIchiếm gần 78% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước,đạt33,64tỷ USD, tăng tới43,32% so với tháng 1/2025.
Mức độ đóng góp áp đảo của khu vực
FDI đã cho thấy sự phụ thuộc lớn của nền kinh tế vào khu vực này, với tỷ
trọng tới 99% trong các nhóm hàng điện tử, máy tính và điện thoại; kéo theo đó, khu vực
doanh nghiệp trong nước vẫn đứng ngoài các khâu có giá trị gia tăng cao như
thiết kế, nghiên cứu – phát triển và sản xuất linh kiện cốt lõi.
Thực tế này đặt ra yêu cầu đẩy nhanh chính sách phát triển công nghiệp hỗ
trợ, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa, qua đó
từng bước nâng tỷ lệ nội địa hóa và giảm rủi ro trước những biến động của chuỗi
cung ứng toàn cầu.
Nổi bật, xuất khẩu than tăng gần 12 lần so với nửa đầu tháng 1/2026, đạt trị giá 11,9 triệu USD. Đây là nhóm hàng ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất trong nửa cuối tháng 1/2026. Ngoài ra, nhóm phân bón cũng tăng tới 232,5% và nhóm sắt thép tăng 121,92% so với 15 ngày đầu tháng 1/2026.
Nhìn chung, trong kỳ 2 tháng 1/2026, tất
cả các nhóm hàng hoá đều ghi nhận sự cải thiện hơn so với kỳ 1 tháng 1/2026, ngoại
trừ ba nhóm hàng hoá liên quan đến nhiên vật liệu như: quặng và khoáng sản khác
giảm 23,16%; Clanhke và xi măng giảm 5,99% và xăng dầu giảm tới gần 70%.
Trong tháng 1/2026, xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam đạt
43,19 tỷ
USD, tăng 30,13% so với năm ngoái. Hai
nhóm bao gồm máy vi tính, sản
phẩm điện tử và linh kiện cũng như máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác dẫn
đầu đà tăng trên 1 tỷ USD, tương đương lần lượt 57,92% và 40,52% so với
tháng 1/2025.
Ngoài ra, sự
cải thiện kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam cũng đến từ nhóm ngành thức ăn chăn
nuôi và sản phẩm truyền thống, góp phần đa dạng hóa cơ cấu
xuất khẩu. Trị
giá xuất khấu thức ăn gia súc và nguyên liệu đạt 154,44 triệu USD, tăng 111,75% so với cùng
kỳ năm ngoái.
Ngược lại, gạo, xăng dầu và dầu thô là ba
nhóm hàng duy nhất giảm kim ngạch, trong đó xăng dầu và dầu thô giảm lần
lượt 67,82% và 81,9% so với năm
2025.
Ngoài các nhóm hàng chủ lực, thị trường nhập khẩu còn ghi nhận mức tăng đột biến ở nhóm đá quý và kim loại quý, với tốc độ tăng trên 480% so với năm 2025. Diễn biến này phản ánh nhu cầu gia tăng không chỉ trong hoạt động chế tác trang sức mà còn từ động thái tích trữ tài sản của người dân và doanh nghiệp nhằm bảo toàn giá trị, khiến lượng nhập khẩu vàng nguyên liệu, bạc và kim loại quý tăng mạnh ngay từ đầu năm.
Xét ở
chiều nhập khẩu, trong 15 ngày cuối tháng 1/2026, tổng kim ngạch nhập khẩu đạt
23,5 tỷ USD, tăng 10,38% so với kỳ 1 tháng 1/2026. Động lực tăng trưởng chủ yếu
vẫn đến từ nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng công nghệ cao như máy vi tính, sản
phẩm điện tử, linh kiện và máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng nhằm phục vụ
sản xuất và lắp ráp trong nước.
Cụ thể, nhóm máy vi tính, sản phẩm
điện tử và linh kiện ghi nhận mức tăng gần 600 triệu USD (tương đương 7,42%),
đạt 8,55 tỷ USD. Đứng vị trí thứ hai là nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ
tùng, tăng 273,61 triệu USD (tương đương 9,8%), đạt trị giá 3,07 tỷ USD.
Một số mặt hàng nguyên liệu đầu vào và tiêu dùng thiết yếu cũng ghi nhận mức
tăng đột biến. Nhập khẩu lúa mì tăng gần 200%, đạt 131,44 triệu USD; nhập khẩu
xăng dầu tăng hơn 65%, đạt 451,77 triệu USD.
Tính chung cả tháng 1/2026, nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam đạt 44,97 tỷ USD,
tăng 49,61% so với năm ngoái. Trong đó, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện cũng
như máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đều ghi nhận mức tăng trên
1 tỷ USD, tương đương lần lượt 70,82% và 47,11% so với
tháng 1/2025.
Tương
tự như ở chiều xuất khẩu, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) tiếp tục giữ vai trò chi phối trong cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam.
Tháng 1/2026, khối này đạt kim ngạch nhập khẩu là 32,06 tỷ USD, chiếm khoảng 71,3%
tổng trị giá nhập khẩu cả nước và tăng tới 67,27% so với cùng kỳ năm trước.
Hoạt động sản xuất của khu vực FDI tiếp tục mở rộng mạnh
mẽ, kéo theo nhu cầu lớn về nhập khẩu linh kiện, máy móc, thiết bị và nguyên vật
liệu đầu vào. Trong đó, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện chiếm
50,46%; máy móc, thiết bị,
dụng cụ, phụ tùng khác chiếm 12,88%.
Điều này phản ánh cấu trúc chuỗi giá trị hiện nay của Việt Nam, khu vực doanh nghiệp trong nước vẫn chủ yếu tham gia ở các khâu gia công, lắp ráp và cung ứng phụ trợ có giá trị gia tăng thấp.
Khi
tỷ trọng linh kiện và thiết bị nhập khẩu vẫn ở mức cao, giá trị gia tăng thực
tế được giữ lại trong nước còn hạn chế, trong khi rủi ro từ đứt gãy chuỗi cung
ứng, biến động tỷ giá và chính sách thương mại quốc tế có thể nhanh chóng lan
sang hoạt động sản xuất trong nước.
Trong
nửa cuối tháng
1/2026, đà phục hồi của xuất khẩu đã giúp cán
cân thương mại chuyển sang trạng thái thặng dư 1,58 tỷ USD. Tính chung cả tháng,
cán cân thương mại vẫn thâm hụt 1,78 tỷ USD do chưa đủ bù đắp mức nhập siêu lớn
trong nửa đầu tháng, phản ánh áp lực từ đà tăng mạnh của nhập khẩu tư liệu sản
xuất và linh kiện phục vụ hoạt động chế biến, chế tạo ngay từ đầu năm.
Nếu không tính khu vực FDI thì cán cân thương mại trong nước
tiếp tục rơi vào tình trạng nhập siêu với 1,38 tỷ USD trong nửa cuối tháng
1/2026. Nguyên nhân chủ yếu đến từ nhu cầu nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện
tử và linh kiện từ khu vực FDI tăng mạnh. Do đó, dù cán cân thương mại
tổng thể được cải thiện trong ngắn hạn nhờ xuất khẩu của khu vực FDI, rủi ro
nhập siêu mang tính cơ cấu vẫn hiện hữu, khiến nền kinh tế trong nước chưa giữ
lại được nhiều giá trị gia tăng.
– Dương Phương Linh
Nguồn tin: https://vneconomy.vn/can-can-thuong-mai-tham-hut-gan-18-ty-usd-trong-thang-dau-nam.htm