Xuyên suốt dòng chảy lịch sử dân tộc, Việt Nam đã sản sinh nhiều bậc hiền tài, trí tuệ và nhân cách vượt thời đại, để lại dấu ấn sâu đậm không chỉ trong văn hóa mà còn trong kho tàng di sản nhân loại. Trong đó, không thể không kể đến anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi.
Năm 1980, UNESCO thông qua nghị quyết cùng Việt Nam kỷ niệm 600 năm ngày sinh Nguyễn Trãi, ghi nhận những đóng góp nổi bật của ông đối với văn hóa, giáo dục và tư tưởng. Cuộc đời ông gắn liền với những bước ngoặt trọng đại của đất nước ở thế kỷ XV, còn di sản mà ông để lại đã vượt ra ngoài phạm vi lịch sử, trở thành tài sản chung của văn hóa nhân loại.
Nhà chính trị và quân sự lỗi lạc
Nguyễn Trãi, hiệu Ức Trai, sinh năm 1380 tại kinh thành Thăng Long. Ông có quê gốc ở làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang (cũ), nay thuộc Hải Phòng.
Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống khoa bảng và yêu nước. Cha là Nguyễn Phi Khanh (tên thật Nguyễn Ứng Long), một nho sĩ nổi tiếng, còn mẹ là Trần Thị Thái, con gái thứ ba của quan Đại Tư đồ Trần Nguyên Đán.
Ngay từ nhỏ, Nguyễn Trãi đã nổi tiếng thông minh, ham học và sớm bộc lộ chí lớn. Năm 1400, ông đỗ Thái học sinh dưới triều Hồ, một năm sau được bổ nhiệm giữ chức Ngự sử đài chánh trưởng.
Tuy nhiên, biến cố lịch sử nhanh chóng xảy đến. Năm 1407, quân Minh xâm lược, Đại Việt rơi vào ách đô hộ. Mang khát vọng cứu nước, Nguyễn Trãi tìm đến Lam Sơn theo phò Bình Định vương Lê Lợi. Tại đây, ông dâng “Bình Ngô sách”, trình bày chiến lược đánh giặc và nhanh chóng trở thành mưu sĩ quan trọng của nghĩa quân.
Trong suốt 10 năm khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Trãi vừa góp phần hoạch định chiến lược quân sự, vừa trực tiếp soạn thảo nhiều thư từ ngoại giao gửi các tướng lĩnh nhà Minh, kết hợp sức mạnh quân sự với nghệ thuật “đánh vào lòng người”. Những tư tưởng chính trị, quân sự và ngoại giao của ông được đánh giá là góp phần quan trọng đưa cuộc khởi nghĩa đi đến thắng lợi.
Sau khi đất nước giành lại độc lập, Nguyễn Trãi thay mặt vua Lê Lợi soạn thảo “Bình Ngô đại cáo”, được xem là áng “Thiên cổ hùng văn”.
Nguyên văn (Hán Văn) “Bình Ngô Đại Cáo”. Ảnh: baotanglichsu.vn
Tác phẩm không chỉ tổng kết thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Minh mà còn khẳng định mạnh mẽ chủ quyền, bản sắc và vị thế độc lập của dân tộc Đại Việt. Đây được coi là một trong những bản tuyên ngôn độc lập tiêu biểu nhất trong lịch sử Việt Nam.
Không dừng lại ở việc góp phần giành độc lập, Nguyễn Trãi tiếp tục tham gia xây dựng đất nước dưới triều Lê với mong muốn thực hiện lý tưởng “duy tân đất nước, xây dựng nền thái bình muôn thuở”. Ông có nhiều đóng góp trong việc củng cố nền tảng kinh tế, xã hội và xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa triều đình với nhân dân.
Học giả và nhà tư tưởng lớn của dân tộc
Theo các nhà nghiên cứu, Nguyễn Trãi là một trong những nhà tư tưởng tiêu biểu của Việt Nam thời Hậu Lê.
Tư tưởng của ông là sự kết tinh giữa Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo, trong đó Nho giáo giữ vai trò chủ đạo nhưng luôn được vận dụng linh hoạt phù hợp với hoàn cảnh Đại Việt. Điểm nổi bật nhất trong hệ thống tư tưởng của Nguyễn Trãi là tinh thần yêu nước, thương dân và lấy nhân nghĩa làm gốc.
Nguyễn Trãi – Danh nhân Văn hóa Thế giới, nhà quân sự lỗi lạc, nhà chính trị thiên tài.
Đối với ông, sức mạnh của quốc gia không chỉ nằm ở binh lực mà còn ở lòng dân. Quan điểm ấy được thể hiện xuyên suốt trong sự nghiệp chính trị cũng như các tác phẩm để đời.
Đồng thời, Nguyễn Trãi cũng là một học giả có ảnh hưởng sâu rộng đối với nền văn học Việt Nam.
Ở lĩnh vực văn chính luận, ông để lại nhiều tác phẩm tiêu biểu như Quân trung từ mệnh tập, tập hợp những văn thư gửi các tướng nhà Minh trong thời kỳ khởi nghĩa Lam Sơn; Bình Ngô đại cáo, Chí Linh sơn phú cùng nhiều chiếu biểu khác. Các tác phẩm này được đánh giá cao nhờ lập luận chặt chẽ, sắc bén, vừa cương quyết vừa thấu tình đạt lý.
Trong lĩnh vực lịch sử, ông gắn với Lam Sơn thực lục với ghi chép về 10 năm khởi nghĩa Lam Sơn theo lệnh vua Lê Thái Tổ. Dù đến nay vẫn còn những ý kiến khác nhau về tác giả, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Nguyễn Trãi là người biên soạn. Ngoài ra, ông còn viết Vĩnh Lăng thần đạo bi kể lại thân thế và sự nghiệp của vua Lê Thái Tổ.
Ở lĩnh vực địa lý, Dư địa chí được xem là bộ sách địa lý cổ nhất của Việt Nam còn lưu giữ đến ngày nay, ghi chép về địa lý, sản vật và con người Đại Việt thế kỷ XV.
Đặc biệt, trong lĩnh vực thơ ca, Nguyễn Trãi để lại dấu ấn sâu đậm với hai tập thơ nổi tiếng. Ức Trai thi tập gồm 105 bài thơ chữ Hán, trong đó có tác phẩm nổi tiếng Côn Sơn ca. Còn Quốc âm thi tập gồm 254 bài thơ chữ Nôm, được xem là tập thơ Nôm cổ nhất còn lại của Việt Nam. Chính với tác phẩm này, Nguyễn Trãi được đánh giá là người đặt nền móng cho nền văn học chữ Nôm.
Ngoài ra, ông còn sáng tác Băng Hồ di sự lục kể về cuộc đời Trần Nguyên Đán và nhiều trước tác khác về lễ nghi, luật pháp, văn hóa. Dù phần lớn di sản đã thất lạc, những cống hiến của Nguyễn Trãi vẫn được lịch sử ghi nhận như biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần nhân nghĩa và trí tuệ Việt Nam.
Nhiều tác phẩm sân khấu, văn học và điện ảnh lấy cảm hứng từ ông như Bí mật vườn Lệ Chi, Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Đêm của bóng tối, Vạn Xuân, Nguyễn Trãi, Thiên mệnh anh hùng…
Chính những cống hiến ấy đã đưa Nguyễn Trãi trở thành một trong những anh hùng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam và được UNESCO tôn vinh là Danh nhân văn hóa thế giới, khẳng định vị trí đặc biệt của ông không chỉ trong lịch sử dân tộc mà còn trong kho tàng văn hóa nhân loại.
Hiện nay, nhiều di tích thờ Nguyễn Trãi vẫn được bảo tồn. Tên ông cũng được đặt cho nhiều tuyến đường, trường học trên khắp cả nước.
(Theo scov.gov.vn, Bảo tàng Lịch sử quốc gia)
Nguồn tin: https://cafef.vn/thien-tai-nguoi-viet-dau-tien-duoc-unesco-vinh-danh-la-danh-nhan-van-hoa-the-gioi-cong-hien-het-tai-nang-va-tri-tue-cho-dan-toc-188260802222211993.chn